Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 05-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Xuân Trường, Giáo viên, Hiệu trưởng trường Tiểu học và THCS xã An Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  2. Bà Bùi Thị Ngoan, Bí thư Đoàn thanh niên CSHCM thị trấn Kiến Xương, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 07/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HS ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HS ngày 26/02/2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang T; giới tính: Nam; sinh ngày 18/02/1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T1 và con bà Đặng Thị M; có vợ là Đỗ Thị Huyền M1, có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Tiến S; giới tính: Nam; sinh ngày 19/10/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Tuấn D và con bà Đặng Thị D1; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 13/3/2024 có hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 13/4/2024 Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83 bằng hình thức phạt tiền (đã nộp xong ngày 02/5/2024).

Nhân thân: Ngày 30/9/2024, có hành vi gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố T, ngày 19/11/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố T khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực K, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Vũ Lê Quang A; giới tính: Nam; sinh ngày 13/11/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Tiến H và con bà Lê Thị Kim A1; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 13/3/2024 có hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 13/4/2024 Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87 bằng hình thức phạt tiền (đã nộp xong ngày 02/5/2024)

Nhân thân: Ngày 09/01/2022 có hành vi cố ý gây thương tích, ngày 09/3/2022 Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47 bằng hình thức Cảnh cáo.

Ngày 30/9/2024 có hành vi gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố T, ngày 19/11/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố T khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực K, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa

4. Phạm Ngọc Hải A2; giới tính: Nam; sinh ngày 31/7/2008; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Ngọc T2 và con bà Phùng Thị N; chưa có vợ, con.

Tiền sự, tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 25/8/2024 có hành vi gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố T. Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/11/2024, hiện đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa.

5. Tô Văn H1; giới tính: Nam; sinh ngày 14/7/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Tô Văn M2 và con bà Trần Thị K; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/7/2022, có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 27/9/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 bằng hình thức Cảnh cáo. Ngày 14/10/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định số 45 áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại xã phường, chấp hành xong ngày 15/4/2023.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

6. Vũ Tiến Đ; giới tính: Nam; sinh ngày 21/6/2007; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Quang Đ1 và con bà Nguyễn Thị N1; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

7. Trần Hữu T3; giới tính: Nam; sinh ngày 09/10/2004; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Hữu T4 và con bà Phạm Thị M3; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

8. Vũ Văn T5; giới tính: Nam; sinh ngày 15/10/2007; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn P và con bà Nguyễn Thị V; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

9. Nguyễn Quang V1; giới tính: Nam; sinh ngày 04/01/2008; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn C, xã T (trước đây là xã N), huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Tử L và con bà Nguyễn Thị P1; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

10. Vũ Gia B; giới tính: Nam; sinh ngày 20/3/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn T6 và con bà Nguyễn Thị S1; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

11. Vũ Ngọc Gia B; giới tính: Nam; sinh ngày 18/4/2007; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn H2 và con bà Trần Thị D2; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

  1. 1. Bà Phùng Thị N, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Ngọc Hải A2 – có mặt)
  2. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

  3. 2. Ông Vũ Văn Đ2, sinh năm 1971 (là bố đẻ của bị cáo Vũ Tiến Đ – có mặt)
  4. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  5. 3. Ông Vũ Văn P, sinh năm 1982 (là bố đẻ của bị cáo Vũ Văn T5 – có mặt)
  6. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  7. 4. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1983 (là mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Quang V1 - có mặt)
  8. Nơi cư trú: Thôn C, xã T (xã N cũ), huyện K, tỉnh Thái Bình.

  9. 5. Bà Trần Thị D2, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ của bị cáo Vũ Ngọc Gia B – có mặt)
  10. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  11. 6. Bà Lê Thị Kim A1, sinh năm 1985 (là mẹ đẻ của bị cáo Vũ Lê Quang A – có mặt).
  12. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Người bào chữa cho các bị cáo Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Vũ Tiến Đ, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1 và Vũ Ngọc Gia B: Bà Nguyễn Thị H3 và bà Trần Thị Hà P2, Trợ giúp viên, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh T (đều có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 1. Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  3. 2. Anh Trần Phương T7, sinh năm 1995 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  5. 3. Anh Trần Đại V3, sinh năm 2008 (có mặt)
  6. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Người làm chứng:

  1. 1. Bà Đoàn Thị M4, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  3. 2. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  5. 3. Ông Lương Văn H4, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  7. 4. Ông Lương Hữu T8, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  8. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  9. 5. Anh Phạm Ánh D3, sinh năm 2009 (vắng mặt)
  10. Nơi cư trú: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Đoàn thanh niên CSHCM: Xã V, thành phố T; xã V, xã Q, xã T và xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Quang T làm công việc quản lý và cung cấp nhân viên nữ phục vụ tại các quán Karaoke trên địa bàn huyện K. Nhân viên nữ do Tuyến quản lý đến từ nhiều tỉnh, thành khác nhau, được T nuôi ăn uống, thuê nhà trọ của anh Nguyễn Văn T9, ở thôn N, xã H, huyện K để cư trú. Khi các quán Karaoke trên địa bàn huyện K có nhu cầu cần nhân viên nữ phục vụ khách hát thì chủ quán sẽ liên lạc với T để T phân công. Tuyến thuê Vũ Tiến Đ, Tô Văn H1 và Trần Đại V3 sinh ngày 23/12/2008, trú tại thôn T, xã V, huyện K chuyên chở nhân viên đi làm ở các quán Karaoke.

Ngày 11/8/2024, T phân công Đ chở chị Lù Thị D4, sinh năm 2001, ở tỉnh Sơn La đến quán K2 địa chỉ thuộc thôn Đ, xã H, huyện K do chị Nguyễn Thị V2, sinh năm 1983 là chủ quán để phục vụ khách hát. Khi D4 đang phục vụ khách thì T gọi D4 về nhà trọ và nghỉ giữa chừng nên chị V2 không trả tiền công 02 giờ làm việc cho D4, giữa chị V2 và T phát sinh mâu thuẫn.

Khoảng 04 giờ ngày 13/8/2024, tại nhà trọ của T, T bàn bạc với Vũ Tiến Đ và Tô Văn H1 giải quyết mâu thuẫn với chị V2 bằng cách gọi người trên thành phố T đến quán của chị V2 hát và sau đó tạo cớ gây sự, không thanh toán tiền hát cho chị V2 để chị V2 phải trả tiền công cho chị D4. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T chở nhân viên của mình đến quán K3 ở thôn A, xã T, huyện K; T gọi điện thoại cho Vũ Văn T5, Vũ Tiến Đ; Trần Đại V3; Phạm Ngọc Hải A2, Vũ Lê Quang A, Trần Hữu T3 và 01 nam thanh niên tên là K1 ở tỉnh Lào Cai (là bạn của T3 mới quen) đến khu vực quán K3 để nói cho những người này biết về việc mâu thuẫn giữa T và chị V2. T bảo T5, Đ, V3, Hải A2, Quang A, T3 và K1 đến quán Karaoke của chị V2 thuê 01 phòng hát, 01 nhân viên nữ phục vụ hát và tạo lý do để gây mâu thuẫn, không thanh toán tiền hát; nếu có chuyện gì xảy ra thì gọi điện, nhắn tin để thông báo cho T biết, tất cả đều đồng ý theo kế hoạch của T. Sau khi bàn bạc phân công xong, V3, Hải A2, Quang A, T3, K1, T5 đi đến quán Karaoke của chị V2 để thuê phòng Vip 01. Trong quá trình hát, V3 gọi thêm Nguyễn Quang V1, Nguyễn Tiến S và Vũ Ngọc Gia B đến hát cùng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Quang A có việc nên V1, S, Vũ Ngọc Gia B điều khiển xe mô tô đi cùng Quang A về thành phố T; những người còn lại vẫn tiếp tục hát. Đến khoảng 00 giờ ngày 14/8/2024, V3, Hải A2, T3, K1, T5 ra quầy lấy hóa đơn thanh toán tiền hát là 4.660.000 đồng. Do không thanh toán tiền nên anh Phương Văn T10, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã H, huyện K là người quản lý quán Biên T3 đóng cửa quán lại, không cho ai đi về. Thấy vậy V3 nhắn tin thông báo cho T biết. T bảo Đ đi lấy hung khí ở nhà trọ của T gồm 04 đoạn tuýp sắt, 02 con dao quắm, 02 thanh kiếm cho vào cốp xe ô tô của T; sau đó T nhắn tin cho V3 bảo V3 xin về trước để lấy tiền nên anh T10 mở cổng cho V3, T3, Hải A2 về trước để lấy tiền trả. T3, Hải A2 đứng chờ ở cây xăng D5 còn V3 đi về đến nhà trọ của T gặp T và Đ đang chờ ở đây. Sau khi bàn bạc xong, V3 cầm theo bình xịt hơi cay giấu vào cạp quần rồi cùng với T, Đ đi đến cây xăng D5 ở xã H để tập hợp gọi thêm H1, V1, S, Vũ Ngọc Gia B. Tuyến phân công H1, V1, Vũ Ngọc Gia B, V3, T3, Hải A2, S, T3, Đ mang theo hung khí quay lại quán K2 để giải cứu K1, T5 vẫn đang bị giữ lại trong quán đồng thời Tuyến hẹn mọi người khi nào xong việc thì tập trung tại cụm công nghiệp xã V, huyện K. S, H1, V1, Vũ Ngọc Gia B, V3, T3, Hải A2, Đ sử dụng xe mô tô đi đến quán K2; V3 đi đến cổng gọi anh T10 ra mở cổng để trả tiền mục đích để những người còn ở trong quán chạy ra ngoài. Khi anh T10 mở cổng, T5 dùng chân đạp cổng và dùng tay giữ cổng, V3 sử dụng bình xịt hơi cay mang theo xịt vào mặt anh T10; H1 cầm 01 thanh kiếm giơ về hướng anh T10 để dọa; Đ cầm một 01 chiếc dao quắm; S cầm 01 thanh kiếm; V1 cầm một đoạn tuýp sắt chạy về hướng anh T10 để dọa anh T10. Chị V2 thấy vậy chạy ra thì bị V3 sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào mặt. Sau đó, cả nhóm bỏ đi đến cụm công nghiệp xã V để tập hợp.

Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 14/8/2024, T, S, H1, V1, Vũ Ngọc Gia B, V3, T3, Hải A2, Đ, K1, T5 tập trung tại khu công nghiệp xã V thì V3 nói với cả nhóm “Bây giờ quay lại lần nữa, tao cay thằng quản lý quá”, cả nhóm đồng ý và điều khiển xe mô tô mang theo hung khí đi đến quán K2; còn T, K1, Hải A2 ở lại. Khi cả nhóm điều khiển xe mô tô đi đến ngã ba T cách quán K2 khoảng 200m thì V3, S cầm hung khí cà xuống đường để đánh lửa. Khi đến cổng quán K2 thì V3, S xuống xe mô tô dùng hung khí đạp vào cổng sắt của quán; còn Đ, T5, H1, V1 đi qua cửa quán K2, chửi bới. Sau đó Đ, V1, T3 điều khiển xe mô tô chạy quanh khu vực cửa quán Biên T3 vê ga, nẹt pô xe mô tô. Khi thấy quán Biên T11 không mở cổng cả nhóm đi về tập hợp ở cụm công nghiệp xã V.

Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 14/8/2024, tại cụm C; có Tuyến, S, H1, V1, Vũ Ngọc Gia B, V3, T11, Hải A2, Đ, K1, T5 đang có mặt tại đây; V3 lại nói “Anh em quay lại lần nữa đi xem thế nào chứ tao vẫn còn cay”; những người có mặt đồng ý quay lại quán của chị V2 và mang theo hung khí; trừ T không đi và ngồi lại ở xe ô tô. Trên đường đi, S, H1, V1, Vũ Ngọc Gia B, V3, T11, Đ, K1, T5, Hải A2 đi bằng xe mô tô, mang theo hung khí đến đoạn đường D thuộc khu vực cây xăng P3 ở xã Q, huyện K thì gặp Quang A, Vũ Gia B và Phạm Ánh D3, sinh ngày 24/10/2009, trú tại tổ A, phường K, thành phố T (là bạn gái của Quang A) nên ba người nhập nhóm đi cùng đến quán Biên T11. Khi đến ngã ba T thì V1, Vũ Ngọc Gia B dừng lại không đi đến quán; những người khác tiếp tục đi đến quán Biên T11. S, H1, V1, V3, T11, Đ, K1, T5, Quang A, Hải A2, Vũ Gia B dừng xe mô tô ở khu vực đường trước cửa quán K2, còn Ánh D3 điều khiển xe mô tô đi về hướng xã Q, huyện K để chờ Quang A (Á không có hành động gì). Tại khu vực đường trước của quán K2, S, H1, V1, V3, T11, Đ, K1, T5, Quang A, Hải A2, Vũ Gia B có hành động bấm còi, nẹt pô, hò hét, chửi bới và dùng hung khí mang theo đập vào cánh cổng sắt của quán Biên T11. Những người trong nhóm thực hiện lập đi lập lại nhiều lần nhưng thấy quán Biên T11 không mở cổng nên cả nhóm giải tán đi về.

Cáo trạng số 04/CT-VKSKX ngày 27/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Nguyễn Quang T tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, d Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Tô Văn H1, Vũ Tiến Đ, Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1, Vũ Gia B và Vũ Ngọc Gia B về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Tô Văn H1, Vũ Tiến Đ, Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1, Vũ Gia B và Vũ Ngọc Gia B phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. 2. Về hình phạt:
    1. 2.1. Áp dụng điểm b, d Khoản 2 Điều 318; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án.
    2. 2.2. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Tô Văn H1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án.
    3. 2.3. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Gia B từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án.
    4. 2.4. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án.
    5. 2.5. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hữu T3 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    6. 2.6. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 21/10/2024.
    7. 2.7. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Lê Quang A từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 14/10/2024.
    8. 2.8. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Hải A2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, tổng hợp hình phạt 07 tháng tù của Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/11/2024.
    9. 2.9. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T5 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    10. 2.10. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    11. 2.11. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Gia B từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. 3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. 4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình:Tịch thu tiêu hủy 04 đoạn tuýp sắt sáng màu, dài 1,5m, đường kính 2,1cm quản lý của bị cáo Vũ Tiến Đ.
  5. 5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

6. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố, không tranh luận gì.

Người bào chữa cho các bị cáo Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Vũ Tiến Đ, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1 và Vũ Ngọc Gia B không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho bị cáo Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1 và Vũ Ngọc Gia B được hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là chứng cứ kết tội lẫn nhau, ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Đơn trình báo của chị Nguyễn Thị V2 (bút lục số 03); biên bản kiểm tra xác định hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường (bút lục số 18, 19); biên bản làm việc với chính quyền xã H, huyện K ngày 20/9/2024 về tình hình an ninh trật tự tại khu vực thôn Đ, xã H, huyện K đêm ngày 13/8/2024, rạng sáng ngày 14/8/2024 (bút lục số 39); kết luận giám định số 1468/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T về hình ảnh trích xuất camera hình ảnh trước cửa quán K2 T3 và phụ lục hình ảnh (bút lục số 23 - 37); lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị V2, anh Phương Văn T10 và anh Trần Đại V3 (bút lục số 40 đến 42, 43, 44, 45 đến 53, 299 đến 301, 304 đến 309); lời khai của những người làm chứng là chị Đoàn Thị M4, anh Nguyễn Thành C, ông Nguyễn Hữu T12, chị Phạm Ánh D3 (Bút lục số 56 đến 63, 302, 303), cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với chứng cứ về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do phát sinh mâu thuẫn giữa bị cáo Nguyễn Quang T với chị Nguyễn Thị V2 (chủ quán Karaoke Biên T11) trước đó, nên đêm ngày 13/8/2024 và rạng sáng ngày 14/8/2024, các bị cáo Nguyễn Quang T, Tô Văn H1, Trần Hữu T3, Nguyễn Quang V1, Vũ Tiến Đ, Vũ Ngọc Gia B, Vũ Gia B, Vũ Văn T5, Nguyễn Tiến S, Phạm Ngọc Hải A2, Vũ Lê Quang A, Trần Đại V3 và 01 thanh niên tên K1 (không xác định được thông tin lý lịch, địa chỉ cụ thể), mang theo hung khí gồm tuýp sắt, dao quắm, kiếm đến quán B1 T3 và khu vực đường trước cửa quán K2 thuộc thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình có hành động hò hét, chửi bới, nẹt pô, phá phách gây rối trật tự cộng cộng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.

[3] Vì vậy, các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Quang T là người khởi xướng, xúi giục các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, chuẩn bị hung khí nên bị cáo bị truy tố theo điểm b, d Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; các bị cáo còn lại đã dùng hung khí khi gây rối trật tự công cộng nên bị truy tố theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Điều 318 Bộ luật hình sự “Tội gây rối trật tự công cộng” quy định: 1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) ...b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách; ...d) Xúi giục người khác gây rối; ...”

[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng, gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân. Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” mà các bị cáo đã thực thực hiện trong vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người khởi xướng, xúi giục các bị cáo khác phạm tội, chuẩn bị hung khí nên bị cáo giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao nhất, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định. Các bị cáo Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Tô Văn H1, Vũ Tiến Đ, Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1, Vũ Gia B và Vũ Ngọc Gia B đã thực hiện hành gây rối trật tự công cộng rất tích cực nên các bị cáo giữ vai trò thứ 2 và phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo T. Các bị cáo Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Vũ Tiến Đ, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1 và Vũ Ngọc Gia B khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên áp dụng các Điều 90, 91, 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng. Bị cáo Phạm Ngọc Hải A2 bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư xử phạt 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/11/2024 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Phạm Ngọc Hải A2.

[6] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[6.1] Bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Lê Quang A có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo Trần Hữu T3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Bị cáo Nguyễn Tiến S và bị cáo Tô Văn H1 có nhân thân xấu, các bị cáo Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A có 01 tiền sự, bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Gia B là người đã trên 18 tuổi, thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực nên cần phải xử phạt tù giam để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[6.3] Các bị cáo Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1 và Vũ Ngọc Gia B có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo có khả năng tự cải tạo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tại phiên toà là phù hợp.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 04 đoạn tuýp sắt sáng màu, dài 1,5m, đường kính 2,1cm quản lý của bị cáo Vũ Tiến Đ, đây là những hung khí các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác:

  1. 8.1] Đối với Trần Đại V3, sinh ngày 23/12/2008 có hành vi cùng với các bị cáo thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên, khi thực hiện hành vi V3 chưa đủ 16 tuổi. Do đó, hành vi của V3 không đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã chuyển tài liệu về hành vi vi phạm của V3 đến Công an xã V, huyện K để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Biện pháp giáo dục tại xã phường là phù hợp.
  2. 8.2] Đối với chị Phạm Ánh D3, quá trình xảy ra sự việc không tham gia, không có hành động, lời nói gì để gây mất an ninh trật tự, do đó không xem xét xử lý là phù hợp.
  3. 8.3] Đối với nam thanh niên tên K1 có hành vi đồng phạm cùng các bị cáo gây rối trật tự công cộng, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lý lịch của K1, do đó không có căn cứ để xử lý.
  4. 8.4] Đối với các hung khí là dao quắm, kiếm sau khi các bị cáo sử dụng đã trả lại cho bị cáo Đ, bị cáo Đ cất hung khí tại nhà trọ của Tuyến nhưng sau đó đã bị mất, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không thu hồi được.
  5. 8.5] Mục đích của bị cáo Nguyễn Quang T khi bàn bạc, xúi giục các bị cáo khác đến quán karaoke B1 T3 là nhằm gây sự, gây rối để chị Nguyễn Thị V2 thanh toán tiền công phục vụ cho nhân viên, sau đó bị cáo T sẽ thanh toán tiền hát ở quán ngày 13/8/2024 cho chị V2, không có mục đích chiếm đoạt tài sản của chị V2 và đến nay đã thanh toán tiền xong. Chị Nguyễn Thị V2, anh Phương Văn T10 không bị thương tích và không bị hư hỏng thiệt hại về tài sản nên không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Tô Văn H1, Vũ Tiến Đ, Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1, Vũ Gia B và Vũ Ngọc Gia B phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng: Điểm b, d Khoản 2 Điều 318; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2.2. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; các Điều 90, 91, 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Lê Quang A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

2.3. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; các Điều 90, 91, 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.

- Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2.4. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 56; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Hải A2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/11/2024.

2.5. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Tô Văn H1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Vũ Gia B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2.6. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Hữu T3 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2.7. Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50; Điều 17; Điều 58; các Điều 90, 91, 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn T5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Gia B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

4. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu 04 đoạn tuýp sắt sáng màu, dài 1,5m, đường kính 2,1cm.

(Vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương quản lý).

6. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Tiến S, Vũ Lê Quang A, Phạm Ngọc Hải A2, Tô Văn H1, Vũ Tiến Đ, Trần Hữu T3, Vũ Văn T5, Nguyễn Quang V1, Vũ Gia B và Vũ Ngọc Gia B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Các bị cáo; người ĐDHP; người có QLNVLQ;
  • - UBND các xã Bình Nguyên, Thống Nhất, Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự: gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Tuyến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger