|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HS-PT Ngày: 02 – 4 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Hiệp.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư;
Ông Bùi Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Công Thành Đạt - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 11/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Trần Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại: tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); có vợ và 04 con; tiền án: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2017/HSST ngày 17/01/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024 được thay đổi bằng biện pháp cho bảo lĩnh. Bị cáo vắng mặt.
-
Điểu Lơm, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1998, tại: tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: X'tiêng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu Q, sinh năm 1968, không rõ mẹ; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024 được thay đổi bằng biện pháp cho bảo lĩnh. Bị cáo vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Điểu L: Ông Đàm Văn Đ - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 21/01/2024, đối tượng tên H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho Trần Văn H thỏa thuận thời gian, địa điểm vận chuyển pháo từ khu vực ngã 3 cây cầy thuộc thôn D, xã Đ, huyện B đến khu vực Nghĩa trang T1, xã Đ, huyện B với tiền công là 6.000.000 đồng thì H đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H gọi điện thoại cho Đ1 Lơm thỏa thuận thời gian, địa điểm, tiền công chở pháo là 500.000 đồng thì L đồng ý. Sau khi điện thoại cho L xong, H điều khiển xe mô tô (không biển kiểm soát) đi đến địa điểm như đã thỏa thuận với đối tượng tên H2, một lúc sau L điều khiển xe mô tô (không biển kiểm soát) đi đến. Tại đây, H và L thấy ở dưới gốc cây ven đường có 08 bao tải, bên trong chứa pháo; thấy số lượng pháo nhiều nên H điện thoại cho đối tượng H2 nói sẽ chở làm 02 chuyến nhưng đối tượng H2 không đồng ý và yêu cầu H chở 01 lần. Thấy vậy, L gọi điện thoại cho Điểu N đến chở pháo với số tiền công là 250.000 đồng thì N đồng ý và điều khiển xe mô tô (không biển kiểm soát) đi đến địa điểm như L đã hướng dẫn. Tại đây, H, L và N bê các bao tải bên trong chứa pháo lên xe mô tô của H 03 bao, xe mô tô của Lơm 03 bao và xe mô tô của N 02 bao rồi sử dụng dây thun buộc các bao tải bên trong chứa pháo lại. Sau đó H, L và N điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số pháo đến khu vực Nghĩa trang T1, xã Đ, huyện B như yêu cầu của đối tượng H2. Khi đi đến dốc Suối dây thuộc thôn D, xã Đ, huyện B thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Đ2 phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và L, còn N bỏ trốn.
Các tang vật thu giữ bao gồm:
- - 01 xe mô tô của L, trên yên xe có 03 bao tải bên trong chứa 90 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, loại 49 ống với khối lượng 141kg;
- - 01 xe mô tô của H, trên yên xe có 03 bao tải bên trong chứa 89 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, loại 49 ống với khối lượng 133kg;
- - 01 xe mô tô của N, trên xe có 02 bao tải bên trong chứa 21 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, loại 49 ống, khối lượng 31kg; 23 ống hình trụ đường kính 5 cm chiều cao 80 cm có khối lượng 21 kg; 18 ống hình trụ có đường kính 7 cm chiều cao 85cm có khối lượng 25kg;
- - Thu giữ trên người của H 01 điên thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen và trên người Điểu Lơm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh.
Ngày 22/01/2024, Đồn Biên phòng Đ2 chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B để điều tra theo thẩm quyền.
Theo kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh B, kết luận:
- - Thùng có ký hiệu 01, 02 có in chữ tang vật do Lơm vận chuyển chứa 90 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống giấy/01 bệ, tổng khối lượng là 138,05kg;
- - Thùng có ký hiệu 03, 04, 05 có in tang vật do H vận chuyển chứa 89 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống giấy/01 bệ, tổng khối lượng là 135,80kg;
- - Thùng có ký hiệu 06 có in tang vật do N vận chuyển chứa 23 ống giấy hình trụ tròn cao 80cm, tổng khối lượng là 22,60kg; thùng có ký hiệu 07 có in tang vật do N vận chuyển chứa 18 ống giấy hình trụ tròn cao 85cm, tổng khối lượng là 26,05; thùng có ký hiệu 08 có in tang vật do N vận chuyển chứa 21 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống giấy/01 bệ, tổng khối lượng là 32,75kg;
- - Mẫu vật được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, phát ra tiếng rít, nổ và ánh sáng nhiều màu. Tổng số mẫu vật trên có tổng khối lượng là 355,25kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Hùng Tích); Điểu L (tên gọi khác: Không) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; 50; 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tính từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; 50; 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Điểu L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tính từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/12/2024, bị cáo Trần Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Điểu L có đơn kháng cáo với nội dụng xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người bào chữa cho bị cáo Điểu L giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin bị cáo L được hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Các bị cáo đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các bị cáo theo Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, ngày 21/01/2024 các bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L đã có hành vi vận chuyển 355,25kg thuốc nổ nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có một số tình tiết giảm nhẹ nhưng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là tương xứng với tính chất mức độ vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- - Người bào chữa cho bị cáo Điểu L không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về sự vắng mặt của các bị cáo: mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 20/3/2025 ngày 02/4/2025 nhưng bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L đều vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Xét thấy, sự vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- [3] Hồ sơ vụ án thể hiện, lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/01/2024, các bị cáo là Trần Văn H và Đ1 Lơm có hành vi vận chuyển pháo nổ từ khu ngã 3 Cây cầy thuộc thôn D, xã Đ đến khu vực Nghĩa trang T1, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang, khối lượng pháo các bị cáo vận chuyển là 355,25kg. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Văn H và Điểu L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
- [4] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H là rất nghiêm trọng, khối lượng hàng cấm mà bị cáo và bị cáo L vận chuyển là rất lớn, đã xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án, cụ thể tại Bản án số 08/2017/HSPT ngày 17/01/2017, Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đã xử phạt số tiền 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại thời điểm phạm tội mới bị cáo đã chấp hành xong Bản án nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm được địa phương xác nhận và hiện đang sinh sống trên địa bàn có nền kinh tế đặc biệt khó khăn nhưng đây là những tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét nên với mức án 04 (bốn) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào khác nên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [5] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Điểu L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Điểu L cũng là rất nghiêm trọng, khối lượng hành cấm bị cáo và bị cáo H vận chuyển là rất lớn, đã xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành. Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là đồng bào dân tộc thiểu số nhưng các tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét nên với mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, không nặng. Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ các điều kiện được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào khác nên kháng cáo xin được hưởng án treo bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [7] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- [8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn H và kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Điểu L.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Hùng Tích); Điểu L (tên gọi khác: Không) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; 50; 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; các điều 54; 50; 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Điểu L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 26/3/2024.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Điểu L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tiến Hiệp |
Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự phúc thẩm (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 17/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Trần Văn H và Điểu L phạm tội "Vận chuyển hàng cấm".
