|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 26/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Thái Văn Sửu.
Bà: Vũ Thị Thanh Hương.
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/HSST, ngày 25/2/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/10/1991 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Xuân B, sinh năm: 1970 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; vợ: Ngô Thị H, sinh năm: 1991 (Đã ly hôn); con: Có 01 con 14 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Trần Xuân B; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/4/1970 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Thành M, (Đã chết) và con bà: Trần Thị C, (Đã chết); vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; con: Có 03 con, lớn nhất 34 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Trần Anh T1; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/5/2000 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Xuân B, sinh năm: 1970 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Trần Văn T2; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/02/2001 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn M1, sinh năm: 1972 và bà: Từ Thị H1, sinh năm: 1974; vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 2003; con: Có 01 con 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Văn N; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 04/6/1978 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn M2, (Đã chết) và bà: Trần Thị V, sinh năm: 1958; vợ: Lê Thị H2, sinh năm: 1987; con: Có 03 con, lớn nhất 20 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/02/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 22/02/2025 đến ngày 06/3/2025; có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/01/2025 đến 12/4/2025 tại địa phương.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/01/2025 đến 12/4/2025 tại địa phương.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/01/2025 đến 12/4/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/01/2025 đến 12/4/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Hồ Thọ H3; sinh ngày: 06/03/1989. Trú tại: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình N1; sinh ngày: 20/05/1992. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Hồ Viết T3; sinh ngày: 22/01/1985. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành N2; sinh ngày: 02/02/1969. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành Q; sinh ngày: 15/10/1999. Trú tại: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đình S; sinh ngày: 10/10/1970. Trú tại: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Trần Thị H4; sinh ngày: 10/08/1964. Trú tại: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn K; sinh ngày: 06/08/2003. Trú tại: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Ngụy Đình T4; sinh ngày: 03/02/2003. Trú tại: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Dương Tiến Q1; sinh ngày: 22/12/1982. Trú tại: Xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức H5; sinh ngày: 12/04/1993. Trú tại: Xóm B, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Hoàng Đình V1; sinh ngày: 09/05/2002. Trú tại: Xóm D, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Phùng Văn T5; sinh ngày: 01/06/1967. Trú tại: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H6; sinh ngày: 10/03/1993. Trú tại: Xóm K, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Phạm Văn L2; sinh ngày: 06/06/1986. Trú tại: Xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Ngô Thanh T6; sinh ngày: 01/10/1980. Trú tại: Xóm S, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H7; sinh ngày: 21/09/1984. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Võ Thị Ngọc Á; sinh ngày: 05/12/2001. Trú tại: Xóm H, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tú O; sinh ngày: 04/07/1996. Trú tại: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Lệ Đ; sinh ngày: 23/06/1999. Trú tại: Xóm H, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành Đ1; sinh ngày: 10/07/1998. Trú tại: Xóm T, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Đinh Thị Thu U; sinh ngày: 07/04/1999. Trú tại: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H7; sinh ngày: 10/09/1976. Trú tại: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Hồ Viết H8; sinh ngày: 01/05/1963. Trú tại: Xóm H, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Hồ Viết K1; sinh ngày: 11/11/1969. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H9; sinh ngày: 05/08/1966. Trú tại: Xóm H, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H10; sinh ngày: 30/10/1974. Trú tại: Khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị P; sinh ngày: 25/08/1992. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Tạ Thị L3; sinh ngày: 28/06/1988. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H11; sinh ngày: 09/06/1957. Trú tại: Xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 10/11/2024, sau khi dự đám cưới tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An xong, anh Ngô Thanh T6, trú tại xóm S, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An điều khiển xe ô tô khách, biển kiểm soát: 37H-064.86, chở một số người dân về huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi đi gần đến khu vực Ngã ba T thuộc xã T, huyện T thì gặp chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Janus, biển kiểm soát: 37N1-275.26 do Trần Văn T điều khiển, chở phía sau chị Nguyễn Thị H6 cùng con trai của T đang lưu thông cùng chiều phía trước. Lúc đó, anh T6 bấm còi rồi điều khiển xe ô tô khách vượt chiếc xe mô tô trên. Khi chiếc xe ô tô vượt lên đã làm bụi đất bay tạt vào chiếc xe mô tô do T điều khiển đang chạy ở phía sau. Khi đến ngã ba T, trong khi cả hai chiếc xe cùng rẽ trái để đi trên đường T về hướng thị trấn T thì Trần Văn T đã điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước chiếc xe ô tô do anh T6 điều khiển. Sau khi vượt lên, Trần Văn T đã cố tình điều khiển xe đi lạng lách, đánh võng ngay trước đầu chiếc xe ô tô khách nhằm khiêu khích tài xế, nhiều lần phanh gấp mặc dù không gặp phải chướng ngại vật gì ở phía trước khiến anh Ngô Thanh T6 cũng bị bất ngờ, nhiều lần phải dẫm phanh gấp để tránh xảy ra va chạm làm những người ngồi trên xe bị mất thăng bằng, ngã chúi về phía trước. Thấy Trần Văn T điều khiển xe đi nguy hiểm như vậy nên chị Nguyễn Thị H6 đã định nhảy xuống khỏi xe, đồng thời có nói với T dừng xe lại để chị H6 điều khiển nhưng T không chịu mà tiếp tục điều khiển xe đi như vậy trong quãng đường khoảng 1,5 km. Khi điều khiển xe mô tô về đến khu vực sân bóng xóm H, huyện T, tỉnh Nghệ An thì Trần Văn T chủ động dừng xe bên mép đường phía bên phải theo hướng đi của mình rồi xuống xe, có những hành động thách thức, khiêu khích những người trên chiếc xe ô tô khách xuống xe. Do bức xúc vì hành vi điều khiển xe của T trước đó và hành động khiêu khích của T nên Nguyễn Thành N2, đã nói với anh Ngô Thanh T6 dừng xe, mở cửa với mục đích để xuống nói chuyện với T. Trong lúc nói chuyện, giữa Nam và T xảy ra mâu thuẫn rồi lao vào xô xát, đánh nhau. Thấy vậy, Nguyễn Thành S1, Nguyễn Thành Q, Hồ Viết T3, Nguyễn Đình N1, lần lượt xuống xe lao vào dùng tay đánh Trần Văn T. Trong đó, Nguyễn Thành S1, Hồ Viết T3 và Nguyễn Đình N1 đã dùng tay đánh vào vùng mặt và đầu của T khiến T bị thương tích tại vùng miệng. Bị đánh, Trần Văn T vùng chạy vào quán tạp hoá của bà Trần Thị H4, trú tại xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An lấy từ trên bàn 01 (một) con dao lợ, cầm trong tay trái rồi chạy đến vị trí chiếc xe ô tô khách đang đỗ. Lúc này, những người trước đó đánh T đã lên xe ô tô, chỉ còn Nguyễn Thành S1 đang đứng ở phía dưới nên Trần Văn T lao đến và dùng dao chém 01 (một) nhát trúng vào thành bụng bên trái khiến Nguyễn Thành S1 bị thương tích. Thấy vậy, một số người trên chiếc xe ô tô khách đã chạy xuống để can ngăn, đồng thời kéo Nguyễn Thành S1 lên xe rồi đóng cửa lại. Thấy cửa xe đã đóng, Trần Văn T chạy đến vị trí sạp bán thịt lợn của ông Ngụy Đình H12, (cách chiếc xe ô tô khách khoảng 05- 07 mét) kéo 01 (một) chiếc bàn gỗ lại đặt ngay trước đầu chiếc xe ô tô khách để chặn chiếc xe cùng những người trên xe lại. Một lúc sau, Trần Văn T2, Nguyễn Văn N (là anh em, họ hàng với T) và Trần Anh T1 (là em trai ruột của T) nghe tin T bị đánh nên đi đến. Khi đến, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N đã bẻ các cành cây, gậy gỗ rồi cùng với Trần Văn T và Trần Anh T1 đi xung quanh chiếc xe khách, liên tục có lời nói, hành động đe doạ đối với những người trên xe khách, cũng như hò hét, kích động mọi người không cho chiếc xe khách di chuyển. Khi tài xế không mở cửa xe, những người này tiếp tục có những hành vi như: Trèo lên chiếc bàn gỗ dùng tay vỗ vào cửa kính, dùng chân và các vật khác đập phá xe gây vỡ một bên kính cửa lên xuống xe, trầy xước sơn, nhựa tại ba-đơ-xốc và đèn chiếu sáng phía trước bên phải xe để tìm cách lên xe và tạo áp lực buộc tài xế phải mở cửa xe để lên xe đánh người. Trong khi những người này đang tiếp tục có những hành vi như vậy thì Trần Xuân B (là bố đẻ của Trần Văn T) đi đến. Thấy sự việc diễn ra như vậy nên đã trèo, đứng lên lốp trước bên trái chiếc xe ô tô khách, kéo cửa sổ ra nói chuyện với tài xế. Lúc đó, Trần Xuân B nói với tài xế một số câu như: “Bây giờ thằng nào đập, dân R choa là giết hết”, “bây giờ mày nói cho tao nghe thằng nào đánh con tao, nếu không trả lời được là mày chết”, “tại sao mày đánh con tao”, “mày biết dân Nam C1 choa rồi chi”, “tau không biết Pháp luật”... nhằm mục đích đe doạ tài xế nhưng tài xế vẫn không mở cửa xe. Một lúc sau, Trần Văn T trèo qua cửa sổ vào ngồi trên táp lô trước mặt tài xế nói với tài xế một số câu như: “Một là mở cửa hai là mi chết”, “Mở cửa hay là chết cho mi chọn”..., đồng thời hò hét với những người ở dưới: “Đưa cho anh cấy rạ”, “Đưa rạ đây cho anh, anh giết thằng ni dừ”, “Đưa dao đây cho anh”... để đe doạ khiến tài xế hoảng sợ nên đã phải mở cửa xe. Khi xe mở cửa, Trần Xuân B, Trần Văn T2, Nguyễn Văn N và Trần Anh T1 đã lên xe rồi cùng với Trần Văn T hành hung, dùng tay đánh đập Nguyễn Thành S1 và Nguyễn Đình N1. Thấy vậy, anh Phạm Văn L2, đã lên xe để can ngăn nên những người trên đi xuống và tiếp tục không cho chiếc xe khách này di chuyển. Trước sự việc diễn ra như vậy nên có đông người dân xung quanh hiện trường đã đổ ra đứng hai bên đường T để xem, gây cản trở, ách tắc giao thông và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhận được thông tin về vụ việc, lực lượng Công an đã đến hiện trường để làm việc, tổ chức khám nghiệm hiện trường. Quá trình khám nghiệm, lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ toàn bộ các vật chứng có liên quan đến vụ việc. Sau khi làm việc, lực lượng Công an đã tuyên truyền, giải thích, vận động, đồng thời yêu cầu những người liên quan để đưa chiếc xe khách và những người có mặt trên xe về trụ sở Công an huyện T để tiếp tục điều tra, làm rõ theo quy định. Tuy nhiên, những người liên quan không chấp hành, tiếp tục chặn xe và yêu cầu lực lượng Công an phải giải quyết vụ việc ngay tại chỗ, nếu không sẽ tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật như đánh người, huỷ hoại (đốt) chiếc xe khách. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, những người liên quan mới đồng ý để lực lượng Công an đưa chiếc xe khách và những người trên xe về trụ sở để làm việc nên tình hình an ninh trật tự lúc đó mới ổn định trở lại bình thường.
Vụ việc trên đã khiến Trần Văn T bị gãy xương hàm dưới (đường gãy đi qua răng 32-33) và gãy răng 32; Nguyễn Thành S1 bị thương tích tại vùng bụng, bầm tụ máu, xây xước da tại vùng mắt bên trái và vùng tai phải, phải đến các cơ sở y tế để sơ cứu, điều trị; xe ô tô khách, biển kiểm soát: 37H-064.86 bị vỡ một bên kính cửa lên xuống, trượt xước sơn tại ba-đơ-xốc bên phải và trượt xước nhựa tại mặt đèn chiếu sáng bên phải xe. Ngoài ra, do vụ việc xảy ra trên đường Tỉnh lộ 534B (tuyến đường có nhiều phương tiện lưu thông) nên đã khiến một số phương tiện bị ách tắc, không thể di chuyển được, trong đó có xe ô tô của anh Nguyễn Đức H5, trú tại xóm B, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dương Thế Q2, trú tại xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An và anh Hoàng Đình V1, trú tại xóm D, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Một phần diễn biến vụ việc trên được Camera an ninh của các hộ dân xung quanh khu vực hiện trường, Camera bên trong xe ô tô, biển kiểm soát: 37H-064.86 và một số người có mặt trên chiếc xe khách dùng điện thoại di động ghi lại được.
Đến ngày 11/11/2024, Cán bộ xóm H và Công an xã K, huyện T có báo cáo nêu rõ vụ việc trên đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, gây ách tắc cản trở giao thông trong một thời gian dài.
Đến ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định các số: 1113/QĐ-CSĐT và 1114/QĐ-CSĐT để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành S1 và Trần Văn T do thương tích gây nên.
* Tại Bản kết luận giám định số: 714/KLTTCT-TTPY ngày 30/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: “1. Các kết quả chính:
- Hai sẹo vết thương phần mềm tại: Đuôi cung lông mày bên trái và thành bụng bên trái, không ảnh hưởng chức năng.
- Quanh hốc mắt bên trái và tai bên phải, hiện tại không có dấu vết tổn thương, không để lại di chứng.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành S1 tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
* Tại Bản kết luận giám định số: 719/KLTTCT-TTPY ngày 26/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: “1. Các kết quả chính:
- Một sẹo mổ kết hợp xương hàm dưới, niêm mạc hàm dưới.
- Gãy xương hàm dưới đã mổ kết hợp xương, không ảnh hưởng chức năng.
- Mất răng R3.2.
- Bả vai bên trái hiện tại không có dâu vết tổn thương, không để lại di chứng.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
Đến ngày 02/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản số 30/YC-CSĐT để xác định giá trị thiệt hại của xe ô tô khách biển số 37H-064.86 liên quan đến vụ việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Tổng giá trị thiệt hại và chi phí khắc phục, sửa chữa lại tình trạng ban đầu của xe ôtô khách, loại 30 chỗ ngồi, nhãn hiệu: SAMCO, loại: KGQ2, sản xuất năm 2013, màu sơn: trắng, số khung: RLEB1R75LD7102336, số máy: 4HK1064495, biển số: 37H-064.86 tại thời điểm tháng 11/2024 là 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng)”.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSTK ngày 24 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, đã truy tố các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N, về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: + Bị cáo Trần Văn T mức án từ 30 đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Trần Anh T1, mức án từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 54 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Xử phạt Trần Văn T2 mức án từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 54 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 54 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn B1 mức án từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 54 đến 60 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng: 01 (một) con dao dạng dao thái; 05 viên gạch còn nguyên và 03 viên gạch đã vỡ, có kích thước trung bình (14x10x6)cm; 02 viên gạch vỡ, có kích thước trung bình (12x10x6)cm; 02 thanh gỗ dạng hình trụ tròn chiều dài, đường kính lần lượt là 1,3m và 2,5cm; 1,56m và 03cm; 01 thanh gỗ có chiều dài 2,1m, đường kính 2,5cm bị gãy làm đôi; 01 thanh gỗ hình trụ tròn dài 73cm, đường kính 04cm và 02 cành cây có hình dạng không xác định, chiều dài lần lượt là 1,38m và 0,83m; 01 thanh gỗ dạng hình trụ chữ nhật dài, rộng, cao lần lượt là 1,3m, 04cm và 03cm là vật chứng công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho anh Hồ Hải H13 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), anh H13 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Đối với thương tích của Trần Văn T, những người liên quan gây thương tích cho T đã bồi thường cho T số tiền: 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Đối với thương tích của Nguyễn Thành S1 thì Nguyễn Thành S1 không có yêu cầu bồi thường dân sự gì. Các bên không có yêu cầu gì thêm nên miễn xem xét.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Các bị cáo không có tranh luận gì. Các bị cáo có lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 10/11/2024, do nảy sinh bực tức trong quá trình tham gia giao thông nên Trần Văn T đã điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 37N1-275.26 lạng lánh, đánh võng, cố tình phanh gấp ngay trước đầu xe ô tô khách, biển kiểm soát: 37H-064.86 gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông trong quãng đường khoảng 1,5km thuộc tuyến đường Tỉnh lộ 534B hướng từ xã T đến xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi đến khu vực Sân bóng xóm H, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T chủ động dừng xe rồi có hành động khiêu khích, thách thức những người trên chiếc xe khách dẫn đến việc xô xát, đánh nhau. Khi bị một số người đi trên xe ô tô khách đánh gây thương tích thì Trần Văn T đã chạy vào nhà dân lấy 01 (Một) con dao lợ chém gây thương tích cho Nguyễn Thành S1, sau đó Trần Văn T tiếp tục kéo chiếc bàn gỗ ở bên đường chặn đầu chiếc xe ô tô khách lại rồi lôi kéo, kích động người thân gồm: Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N hò hét, sử dụng các cành cây, gậy gỗ đập phá xe ô tô khách, gây thiệt hại: 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng), đồng thời đe doạ tài xế xe khách mở cửa. Khi tài xế mở cửa xe thì Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N đã lên xe hành hung, đánh đập một số người có mặt trên xe rồi tiếp tục xuống xe tụ tập, chặn chiếc xe ô tô khách, yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết sự việc ngay tại chỗ làm ách tắc, cản trở giao thông trên tuyến đường đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã K, huyện T trong khoảng thời gian hơn 06 giờ đồng hồ.
Hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Ngoài ra còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, nguyên tắc an toàn nơi công cộng tại nơi có nhiều người qua lại đồng thời xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của những người xung quanh. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cản trở sự hoạt động của cơ quan tố tụng, cũng như làm mất trật tự, an ninh tại địa bàn nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Điều đó chứng tỏ các bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, tổ chức, cấu kết chặt chẽ nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2, Nguyễn Văn N đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Xuân B có mẹ là bà Trần Thị T7 (tên gọi khác Trần Thị C) tham gia Kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Phân hóa vai trò và mức hình phạt: Trong vụ án này, bị cáo Trần Văn T là người khởi xướng, các bị cáo Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành trong đó bị cáo B đóng vai trò thực hành tích cực nhất. Vì vậy mức án của bị cáo T sẽ cao hơn các bị cáo khác, tiếp theo là bị cáo B, các bị cáo còn lại có mức án tương đương nhau, nhưng xét thấy sự việc xảy ra do một phần lỗi của những người liên quan. Các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Xuân B có thêm 1 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng pháp luật đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án gồm: 01 (một) con dao dạng dao thái, có cán làm bằng gỗ, hình dạng trụ tròn màu nâu dài 13cm, đường kính 03cm; 05 (bốn) viên gạch còn nguyên, có cùng kích thước là (21x10x6)cm và 03 (ba) viên gạch đã vỡ, có kích thước trung bình (14x10x6)cm; 02 (hai) viên gạch vỡ, có kích thước trung bình (12x10x6)cm; 02 (hai) thanh gỗ dạng hình trụ tròn chiều dài, đường kính lần lượt là 1,3m và 2,5cm; 1,56m và 03cm; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,1m, đường kính 2,5cm bị gãy làm đôi; 01 (một) thanh gỗ hình trụ tròn dài 73cm, đường kính 04cm và 02 cành cây có hình dạng không xác định, chiều dài lần lượt là 1,38m và 0,83m; 01 (một) thanh gỗ dạng hình trụ chữ nhật dài, rộng, cao lần lượt là 1,3m, 04cm và 03cm là vật chứng công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[8] Trong vụ án này: Đối với hành vi Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2, Nguyễn Văn N khích động, tham gia đập phá xe ô tô khách, biển kiểm sát: 37H- 064.86 gây ra thiệt hại cho anh Hồ Hải H13, với số tiền: 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) nên chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, đồng thời quá trình điều tra không làm rõ được thiệt hại trên cụ thể do ai gây ra. Vì vậy, thiệt hại này được xem là hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng mà các bị cáo đã thực hiện, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không ra Quyết định xử lý hành chính đối với các bị cáo về hành vi này là có căn cứ.
* Đối với hành vi Trần Văn T dùng dao chém và Trần Anh T1, Trần Văn T2, Nguyễn Văn N dùng tay đánh gây thương tích cho Nguyễn Thành S1, với tỷ lệ tổn thương cơ thể 05% (Năm phần trăm) nên có dấu hiệu phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ngày 03/01/2025, Nguyễn Thành S1 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, do đó căn cứ khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự thì không xử lý hình sự các bị cáo về hành vi này mà xem đây là hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng mà các bị cáo đã thực hiện nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không ra Quyết định xử lý hành chính đối với các bị cáo về hành vi này là đúng pháp luật.
* Đối với hành vi Nguyễn Thành S1, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N3 và Nguyễn Thành Q dùng tay đánh gây thương tích cho Trần Văn T, với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12% (Mười hai phần trăm) nên có dấu hiệu phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ngày 03/01/2025, Trần Văn T có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, do đó căn cứ khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự thì không xử lý hình sự đối với các đối tượng trên. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thành S1, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N3 và Nguyễn Thành Q, về hành vi “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N, phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/3/2025.
- Xử phạt Trần Anh T1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/3/2025.
- Xử phạt Trần Văn T2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/3/2025.
- Xử phạt Nguyễn Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/3/2025.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Xuân B 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/3/2025.
- Giao các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N, cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- - Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- - Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- - Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dạng dao thái, có cán làm bằng gỗ, hình dạng trụ tròn màu nâu dài 13cm, đường kính 03cm; 05 (bốn) viên gạch còn nguyên, có cùng kích thước là (21x10x6)cm và 03 (ba) viên gạch đã vỡ, có kích thước trung bình (14x10x6)cm; 02 (hai) viên gạch vỡ, có kích thước trung bình (12x10x6)cm; 02 (hai) thanh gỗ dạng hình trụ tròn chiều dài, đường kính lần lượt là 1,3m và 2,5cm; 1,56m và 03cm; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,1m, đường kính 2,5cm bị gãy làm đôi; 01 (một) thanh gỗ hình trụ tròn dài 73cm, đường kính 04cm và 02 cành cây có hình dạng không xác định, chiều dài lần lượt là 1,38m và 0,83m; 01 (một) thanh gỗ dạng hình trụ chữ nhật dài, rộng, cao lần lượt là 1,3m, 04cm và 03cm.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Văn T, Trần Xuân B, Trần Anh T1, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện T với Chi cục Thi hành án huyện Tân Kỳ ngày 24/2/2025.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Tân Kỳ; - PC10. Công an tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS Tân Kỳ; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - UBND xã nơi BC cư trú. 14 |
T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân Vũ Thị Thanh Hương Thái Văn Sửu |
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |
15
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng (vụ án hình sự)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trậ tự công cộng
