TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HSST. Ngày 25/03/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và bà Nguyễn Thúy Luân.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Là Thư ký viên TAND huyện Đắk Mil.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 11/03/2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thiều Như A, sinh năm 1990 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký HKTT và trú tại: Thôn L, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Song T, sinh năm 1963 và bà Thiều Thị Phi Y, sinh năm 1966, cùng trú tại thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vợ Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1995, trú tại thôn L, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Nguyễn Minh K, sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT và trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1975 và bà Trần Thị X, sinh năm 1970, cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vợ Nguyễn Linh H (Đã ly hôn), sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Nguyễn Hoàng Bảo C, sinh năm 2001 tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mai Q, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Châu T3, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Cảnh P, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố G, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Chin S, sinh ngày 10/01/2010; địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Cảnh S1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố G, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố E, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Chin S: Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố B, TT M'Đrắk, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố G, TT M'Đrắk, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Anh Trần Hữu H2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Anh Hàng Duy H3, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Anh Trần Thanh Đ1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Chị H4, sinh năm 2000; địa chỉ: Số C N, tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Chị H5, sinh năm 1999; địa chỉ: Số C N, tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Chị Hồ Thị L1, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Chị Dương Thị Thanh T5, sinh năm 2008; địa chỉ: Khu phố B, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Dương Thị Thanh T5: Chị Dương Thị Thanh T6, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu phố B, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 20/9/2024, Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Mạnh H1, Trần Hữu H2, Hàng Duy H3, Trần Châu T3, Tô Thị Cẩm L2 và Trần Thanh Đ1 đến quán K1 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để hát Karaoke (do anh Nguyễn Cảnh P làm chủ và Trần Xuân V làm quản lý). Sau đó, Nguyễn Chin S, Hồ Thị L1 và Dương Thị Thanh T5 đều là nhân viên của quán được điều vào phòng Vip 3 cùng hát với Nguyễn Thiều Như A và những người khác. Trước khi Nguyễn Chin S vào phòng Vip 3 thì Nguyễn Minh K là nhân viên của quán nói với Nguyễn Chin S nếu có khách sử dụng đồ thì báo anh (Ý của K là nếu có khách sử dụng ma túy trong quán thì báo K để K báo cơ quan chức năng vì quán không cho sử dụng chất cấm trong quán nhưng Nguyễn Chin S nghĩ K nói nếu có người mua ma túy thì báo cho K để K bán ma túy).
Trong quá trình hát Karaoke, Nguyễn Chin S hỏi Nguyễn Thiều Như A có sử dụng ma túy không thì Nguyễn Thiều Như A hỏi lại Nguyễn Chin S ở đây được sử dụng ma túy à, Nguyễn Chin S trả lời là được rồi đi ra khỏi phòng. Khoảng 15 phút sau, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Thiều Như A nói với Nguyễn Chin S hỏi mua ma tuý (ma túy loại Ketamine và thuốc lắc) thì Nguyễn Chin S đi ra ngoài nói với Nguyễn Minh K là có khách hỏi mua ma túy nên Nguyễn Minh K nhắn tin cho Nguyễn Hoàng Bảo C hỏi có ma tuý loại Ketamine và thuốc lắc không thì C nói chỉ còn ma tuý loại Ketamine và K đồng ý. Sau đó, Nguyễn Hoàng Bảo C gặp đối tượng tên N mua 2.500.000 đồng được 01 gói ma tuý loại Ketamine rồi đưa đến quán K1 giao gói ma tuý cho Nguyễn Minh K, K nhắn tin nói Nguyễn Chin S ra lấy ma tuý thì được Nguyễn Thiều Như A đưa cho Nguyễn Chin S 3.500.000 đồng, do chỉ có ma túy loại Ketamine nên Nguyễn Chin S đưa cho Nguyễn Minh K 3.000.000 đồng rồi lấy gói ma tuý và 01 đĩa sứ (tại phòng bếp) quay lại phòng hát Vip 3 đưa gói ma tuý, đĩa sứ và trả 500.000 đồng cho Nguyễn Thiều Như A rồi đi ra ngoài. Sau khi có ma tuý, Nguyễn Thiều Như A dùng bật lửa có sẵn trong phòng đốt hơ mặt dưới của đĩa rồi đổ ma tuý ra đĩa, đồng thời xé 01 mảnh giấy bìa catton của thùng bia (kích thước 14cm x 07cm) để phân chia số ma tuý trên đĩa thành nhiều đường kẻ rồi dùng ống hút (được làm bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng được quấn tròn, cố định bằng 03 đầu lọc thuốc lá màu vàng) đưa lên mũi hít ma tuý vào bên trong cơ thể. Sau đó, Nguyễn Thiều Như A đưa đĩa ma tuý và ống hút cho Trần Châu T3 sử dụng thì Trần Châu T3 cầm đĩa đựng ma tuý và ống hút đưa lên mũi để hít ma tuý vào bên trong cơ thể rồi tiếp tục hát Karaoke. Phát hiện trong phòng K2 có sử dụng trái phép chất ma túy nên Nguyễn Minh K đã gọi điện thoại trình báo đến Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 08/10/2024, tại thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Hoàng Bảo C đang tàng trữ 01 viên ma tuý đựng trong 01 gói Zipper chỉ đỏ trong túi quần mục đích để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Hoàng Bảo C và Nguyễn Minh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng đã thu giữ gồm: 1,0211 gam ma túy, là Ketamine, hoàn lại sau giám định là 0,9268 gam; 0,3157 gam ma tuý là MDMA, hoàn lại sau giám định là 0,2915 gam; 01 đĩa sứ hình tròn (đường kính 18cm); 01 mảnh giấy bìa catton (kích thước 14cm x 07cm); 01 gói Zipper chỉ đỏ; 01 tờ tiền ngân hàng N1 mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và cố định bằng 03 đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 bật lửa; 01 khẩu trang màu đen; 01 đĩa DVD nhãn hiệu Kachi; 01 USB màu trắng, dung lượng 32Gb, nhãn hiệu Kioxia; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu vàng, gắn sim số 0938.418.695 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax màu xám, gắn sim số 0795.709.999 của Nguyễn Thiều Như A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh của Nguyễn Hoàng Bảo C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh, gắn sim số 0373.267.354 của Nguyễn Minh K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen, gắn sim số 0777.266.871 của Nguyễn Chin S.
Tại kết luận giám định số 442/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chất rắn màu trắng dạng bột đựng trong 01 gói Zipper chỉ đỏ được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng mẫu là 0,9846 gam.
- Chất rắn màu trắng dạng bột bám dính trên 01 đĩa sứ hình tròn, đường kính 18cm, màu trắng có in hoa văn được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng mẫu là 0,0355 gam.
- Chất rắn màu trắng dạng bột bám dính hai đầu tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng được quấn tròn, cố định bằng 03 đầu lọc thuốc lá màu vàng được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng mẫu là 0,0010 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận khối lượng và chất ma tuý bám dính trên 01 miếng bìa catton kích thước 14cm x 07cm và 01 gói Zipper chỉ đỏ được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 465/KL-KTHS ngày 14/10/2024 Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận: Viên nén màu hồng đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng mẫu là 0,3157 gam.
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS(ĐM) ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Nguyễn Thiều Như A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự (BLHS); truy tố bị cáo Nguyễn Minh K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 của BLHS; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiều Như A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thiều Như A từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thiều Như A phải chấp hành chung từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K từ 07 (Bảy) năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng) đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C phải chấp hành từ 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng đến 05 (Năm) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,9268 gam ma túy, là Ketamine và 0,2915 gam ma tuý là MDMA, hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 đĩa sứ hình tròn (đường kính 18cm); 01 mảnh giấy bìa catton (kích thước 14cm x 07cm); 01 gói Zipper chỉ đỏ; 01 bật lửa; sim số 0373.267.354; sim số 0777.266.871 và 01 khẩu trang màu đen do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng tiền ngân hàng N1.
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C do phạm tội mà có.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD nhãn hiệu Kachi và 01 USB màu trắng, dung lượng 32Gb, nhãn hiệu Kioxia chứa các dữ liệu điện tử (bao gồm hình ảnh bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C đến giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh K và hình ảnh Nguyễn Chin S cầm ma túy, đĩa sứ đưa vào cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A) làm tài liệu chứng cứ.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu vàng, gắn sim số 0938.418.695 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax màu xám, gắn sim số 0795.709.999 cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh của Nguyễn Minh K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen của Nguyễn Chin S là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh cho ông Nguyễn Thanh D là chủ sở hữu hợp pháp (đây là điện thoại mà bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C mượn của ông D và sử dụng vào việc phạm tội).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Minh K, Nguyễn Hoàng Bảo C đều khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 20/9/2024, tại Phòng K2 quán K1 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do trước đó Nguyễn Minh K có dặn Nguyễn Chin S có khách sử dụng đồ thì báo cho K nên Nguyễn Chin S hỏi Nguyễn Thiều Như A có nhu cầu sử dụng ma túy không thì Nguyễn Thiều Như A đã đề nghị với Nguyễn Chin S cần mua 3.500.000 đồng tiền ma túy (Ketamine) và kẹo. Nguyễn Chin S báo với K là có khách hỏi mua ma túy, Nguyễn Minh K vì động cơ giúp sức cho Nguyễn Hoàng Bảo C bán ma túy để cùng nhau kiếm lời nên đã gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng Bảo C đến bán 01 gói ma tuý (Ketamine) với giá 3.000.000 đồng, Nguyễn Hoàng Bảo C mang ma túy đến đưa cho Nguyễn Minh K, rồi Nguyễn Minh K đưa cho Nguyễn Chin S (Dưới 16 tuổi) đưa vào Phòng Vip 3 cho Nguyễn Thiều Như A sử dụng cùng Trần Châu T3. Trong lúc bị cáo A và T3 đang sử dụng ma túy thì Nguyễn Minh K phát hiện và báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang và thu giữ 1,0211 gam ma tuý là Ketamine. Ngoài ra, vào lúc 13 giờ 10 phút, ngày 08/10/2024, tại thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đã bắt quả tang Nguyễn Hoàng Bảo C có hành vi tàng trữ trái phép 0,3157 gam ma túy, là MDMA mục đích để sử dụng. Căn cứ vào khối lượng ma túy, mục đích các bị cáo tàng trữ, mua bán ma túy, sử dụng, HĐXX có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Thiều Như A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của BLHS; bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 của BLHS; bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Điểm c, g khoản 1 Điều 249 BLHS sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ...MDMA... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;”
Khoản 1, điểm e khoản 2 Điều 251 BLHS quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc ...;”
Khoản 1 Điều 255 BLHS quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Minh K và Nguyễn Hoàng Bảo C là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm, ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng các bị cáo do ham muốn ích kỷ của bản thân, bất chấp pháp luật, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, trở thành công dân tốt, sống có ích và biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Minh K và Nguyễn Hoàng Bảo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh K báo tin tố giác tội phạm và đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
[6] Đối với đối tượng tên N và đối tượng tên H6 đã bán và cho ma tuý Nguyễn Hoàng Bảo C nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với ông Nguyễn Thanh D không biết bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C sử dụng điện thoại di động của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Chin S đã có hành vi giúp sức cho K, C bán ma túy nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi mới 14 tuổi 08 tháng 10 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS, nên chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Việc Nguyễn Chin S khai sử dụng trái phép chất ma tuý trước đó và Trần Châu T3 sử dụng trái phép chất ma tuý, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với Tô Thị Cẩm L2 (Là người có mặt trong lúc Nguyễn Thiều Như A tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng tại thời điểm Cơ quan điều tra bắt quả tang thì L2 không có mặt trong phòng hát Karaoke), chấp nhận tiếp tục điều tra, xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Cảnh P, anh Trần Xuân V và bị cáo Nguyễn Minh K, do không biết bị cáo Nguyễn Thiều Như A tổ chức cho Trần Châu T3 sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát Karaoke nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (do ngân hàng N1 phát hành) được cuộn tròn và cố định bằng 03 đầu lọc thuốc lá màu vàng mà Nguyễn Thiều Như A và Trần Châu T3 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy do ai cung cấp, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,9268 gam ma túy, là Ketamine và 0,2915 gam ma tuý là MDMA, hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 đĩa sứ hình tròn (đường kính 18cm); 01 mảnh giấy bìa catton (kích thước 14cm x 07cm); 01 gói Zipper chỉ đỏ; 01 bật lửa; sim số 0373.267.354; sim số 0777.266.871 và 01 khẩu trang màu đen do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng tiền ngân hàng N1 bị cáo Nguyễn Thiều Như A sử dụng làm phương tiện phạm tội.
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C do phạm tội mà có.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD nhãn hiệu Kachi và 01 USB màu trắng, dung lượng 32Gb, nhãn hiệu Kioxia chứa các dữ liệu điện tử (bao gồm hình ảnh bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C đến giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh K và hình ảnh Nguyễn Chin S cầm ma túy, đĩa sứ đưa vào cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A) làm tài liệu chứng cứ.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu vàng, gắn sim số 0938.418.695 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax màu xám, gắn sim số 0795.709.999 cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh của Nguyễn Minh K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen của Nguyễn Chin S là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh cho ông Nguyễn Thanh D là chủ sở hữu hợp pháp (đây là điện thoại mà bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C mượn của ông D và sử dụng vào việc phạm tội).
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiều Như A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1.1. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiều Như A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/9/2024).
1.2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/9/2024).
1.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/10/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,9268 gam ma túy, là Ketamine và 0,2915 gam ma tuý là MDMA, hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ hình tròn (đường kính 18cm); 01 mảnh giấy bìa catton (kích thước 14cm x 07cm); 01 gói Zipper chỉ đỏ; 01 bật lửa; sim số 0373.267.354; sim số 0777.266.871 và 01 khẩu trang màu đen.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng tiền ngân hàng N1.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C nộp vào ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD nhãn hiệu Kachi và 01 USB màu trắng, dung lượng 32Gb, nhãn hiệu Kioxia chứa các dữ liệu điện tử (bao gồm hình ảnh bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo C đến giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh K và hình ảnh Nguyễn Chin S cầm ma túy, đĩa sứ đưa vào cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A) làm tài liệu chứng cứ.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu vàng, gắn sim số 0938.418.695 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax màu xám, gắn sim số 0795.709.999 cho bị cáo Nguyễn Thiều Như A.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh của Nguyễn Minh K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen của Nguyễn Chin S.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh cho ông Nguyễn Thanh D là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thiều Như A, Nguyễn Minh K và Nguyễn Hoàng Bảo C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Đắk Nông; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đắk Nông; - Chi cục THADS huyện Đắk Mil; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Trúc Linh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XX THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PT
Bản án số 17/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 17/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 21 giờ ngày 20/9/2024, Nguyễn Thiều Như Anh, Nguyễn Thanh Lịch, Nguyễn Mạnh Hiếu, Trần Hữu Hạnh, Hàng Duy Hưng, Trần Châu Thọ, Tô Thị Cẩm Ly và Trần Thanh Đao đến quán Karaoke Audi thuộc thôn Đắc Lộc, xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để hát Karaoke (do anh Nguyễn Cảnh Phái làm chủ và Trần Xuân Vương làm quản lý). Sau đó, Nguyễn Chin Su, Hồ Thị Lan và Dương Thị Thanh Trúc đều là nhân viên của quán được điều vào phòng Vip 3 cùng hát với Nguyễn Thiều Như Anh và những người khác. Trước khi Nguyễn Chin Su vào phòng Vip 3 thì Nguyễn Minh Khánh là nhân viên của quán nói với Nguyễn Chin Su nếu có khách sử dụng đồ thì báo anh (Ý của Khánh là nếu có khách sử dụng ma túy trong quán thì báo Khánh để Khánh báo cơ quan chức năng vì quán không cho sử dụng chất cấm trong quán nhưng Nguyễn Chin Su nghĩ Khánh nói nếu có người mua ma túy thì báo cho Khánh để Khánh bán ma túy).
