Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST.

Ngày: 19-3-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ

Ông Nguyễn Viết Ngoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Võ Văn N, sinh năm 1968 tại T - Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn X (đã chết) và bà Võ Thị X1, sinh năm 1940 (đã chết); vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1969 (đã chết); Con: có 01 người, sinh năm: 1993; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 14/12/2024 đến ngày 14/02/2025 tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Trần Thị K – sinh năm 1971. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Võ Thanh D – sinh năm 1993. Địa chỉ: khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2/ Bà Lâm Thị Mỹ L – sinh năm 1987. Địa chỉ: khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Văn D1 – sinh năm 1973. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn N và bà Trần Thị K là bạn bè có quan hệ tình cảm với nhau nên N thường xuyên đến nhà bà K tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, Võ Văn N từ nhà thuộc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ điều khiển xe máy biển số 65H2-7713 của ông Võ Thanh D (con ông N) đến nhà bà K. Khi đến nơi, N đậu xe máy bên đầu cầu và đi bộ qua nhà của bà K, N đứng ngoài hàng rào kêu bà K mở cửa nhưng không thấy bà K trả lời nên N leo rào vào trong sân nhà của bà K, N đứng trước cửa nhà tiếp tục kêu bà K mở cửa để nói chuyện nhưng không có ai trả lời. Tức giận, N nảy sinh ý định đốt xe máy biển số 65F1-778.49 của bà K đang đậu trong sân nhà, N đi đến thùng rác lấy một túi nilon mang lại chổ xe máy biển số 65F1-778.49 đang đậu và tiếp tục lấy vài bộ đồ đang phơi trên sào trong sân nhà bà K cuộn lại đặt xuống gác chân của xe máy 65F1-778.49. Sau đó, N lấy bật lửa (hộp quẹt gas) trong túi áo đang mặc châm lửa đốt túi nilon vứt vào bộ đồ đã cuộn lại. Lúc này, trong sân nhà của bà K có 01 xe máy biển số 66L1-181.75 đang đậu gần xe máy biển số 65F1-778.49 và một số tài sản khác. Khi thấy lửa cháy, N cho bật lửa vô túi áo và biết nếu không được chữa cháy kịp thời sẽ gây hại đến toàn bộ tài sản trong sân nhà và nhà bà K nhưng N bỏ mặc leo rào ra ngoài, điều khiển xe máy biển số 65H2-7713 về nhà ngủ. Bà K đang ngủ trong nhà thức giấc thì nghe tiếng động lạ phát ra từ trước cửa nhà nên mở cửa ra xem thì phát hiện cháy nên truy hô và cùng người dân xung quanh dập lửa. Sau đó, bà Trần Thị K trình báo Công an.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ tang vật, tài sản gồm (bút lục 60 - 62):

  • + 01 (một) cánh quạt 05 cánh, nhãn hiệu VINTA, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn.
  • + 01 (một) cánh quạt 07 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng hiện trạng hư hỏng hoàn toàn.
  • + 01 (một) cánh quạt 03 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn.
  • + 02 (hai) bóng đèn Led, dài 120cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn.
  • + 01 (một) bàn nhựa màu xanh dài 60cm, ngang 43cm, cao 50cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn.
  • + 01 (một) ghế dây gỗ dài 110cm, ngang 75cm, cao 110cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần.
  • + 02 (hai) ghế tựa lưng bằng kim loại dài 40cm, ngang 40cm, cao 100cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần.
  • + 01 (một) khung sườn xe bằng kim loại bị cháy nám đen, còn lại 02 vành xe, vỏ xe bị biến dạng, bộ phận giảm thanh và ổ máy, không đọc được số khung, số máy, không còn thấy biển số.
  • + 01 (một) khung sườn xe bằng kim loại bị cháy nám đen, còn lại 02 vành xe, vỏ xe bị biến dạng, bộ phận giảm thanh và ổ máy, không đọc được số khung, số máy, biển số 66L1-181.75.

Đồng thời, tiến hành mời Võ Văn N làm việc; N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và cùng với gia đình tự nguyện giao nộp: 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng đục, 01 (một) áo thun màu xanh dương, 01 (một) quần sọt màu xanh đậm, 01 (một) hộp quẹt gas (bật lửa) màu vàng và 01 (một) xe máy biển số 65H2-7713.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 59/BKL-HĐĐGTS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 31.429.500 đồng. (Bút lục 71-73) cụ thể:

  • + 01 (một) cánh quạt 05 cánh, nhãn hiệu VINTA, đã qua sử dụng, giá 15.000 đồng;
  • + 01 (một) cánh quạt 07 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng, giá 15.000 đồng;
  • + 01 (một) cánh quạt 03 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng, giá 10.000 đồng;
  • + 02 (hai) bóng đèn Led, dài 120cm, đã qua sử dụng, giá 80.000 đồng;
  • + 01 (một) bàn nhựa màu xanh dài 60cm, ngang 43cm, cao 50cm, đã qua sử dụng, giá 95.000 đồng;
  • + 01 (một) ghế dây gỗ dài 110cm, ngang 75cm, cao 110cm, đã qua sử dụng, giá 1.200.000 đồng;
  • + 02 (hai) ghế tựa lưng bằng kim loại dài 40cm, ngang 40cm, cao 100cm, đã qua sử dụng, giá 500.000 đồng;
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 65F1-778.49, nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu sơn trắng, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn, giá 14.000.000 đồng;
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 66L1-181.75, nhãn hiệu YAMAHA, loại Nouvo, màu sơn đen bạc, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn, giá 3.000.000 đồng;
  • + S cửa nhôm diện tích 9,65m², giá 2.702.000 đồng;
  • + S trần la phông trần thạch cao diện tích 16,2m², giá 4.050.000 đồng;
  • + S mái che tiền chế (tôn, khung sắt) diện tích 37,8m² giá 2.280.000 đồng;
  • + Lót nền nhà diện tích 02m² (loại gạch 01 viên 40cm), giá 200.000 đồng;
  • + Tiền công sửa chữa nhà 65,65m², giá 3.282.500 đồng.

Quá trình điều tra, Võ Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với chứng cứ đã được thu thập. Đồng thời, Võ Văn N thống nhất với kết luận định giá tài sản mà hội đồng đã định, không ý kiến gì khác. (Bút lục 118-131).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ theo quy định; đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định trả lại cho bà Trần Thị K: 01 cánh quạt loại 05 cánh, nhãn hiệu VINTA, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 cánh quạt loại 07 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 cánh quạt loại 03 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 02 bóng đèn Led, dài 120cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 bàn nhựa màu xanh dài 60cm, ngang 43cm, cao 50cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 ghế dây gỗ dài 110cm, ngang 75cm, cao 110cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần; 02 ghế tựa lưng bằng kim loại dài 40cm, ngang 40cm, cao 100cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần; 01 khung sườn xe mô tô biển số 65F1-778.49; 01 khung sườn xe mô tô biển số 66L1-181.75. (Bút lục 78).

Quá trình truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định trả lại cho Võ Thanh D 01 (một) xe máy biển số 65H2-7713 do D hoàn toàn không biết ông N dùng xe máy đến nhà bà Trần Thị K để hủy hoại tài sản; trả lại Võ Văn N 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng đục, 01 (một) áo thun màu xanh dương, 01 (một) quần sọt màu xanh đậm do không liên quan đến việc phạm tội. (Bút lục 173, 175)

Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ 01 (một) hộp quẹt gas màu vàng theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Phía gia đình Võ Văn N đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 40.000.000 đồng cho bà Trần Thị K, bà K nhận đủ không yêu cầu gì thêm và làm đơn bãi nại cho Võ Văn N. (Bút lục 117).

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSTN ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì khác.

Về phía bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền do bị cáo tự nguyện bồi thường, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, không sửa đổi hay bổ sung gì thêm. Đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị tuyên bị cáo Võ Văn N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị:

Hình phạt chính: Xử phạt Võ Văn N từ 04 đến 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình bị cáo Võ Văn N đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại bà Trần Thị K với số tiền 40.000.000 đồng xong, bà K đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp quẹt gas màu vàng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Trong điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định trả lại cho bà Trần Thị K: 01 cánh quạt loại 05 cánh, nhãn hiệu VINTA, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 cánh quạt loại 07 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 cánh quạt loại 03 cánh, nhãn hiệu SENKO, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 02 bóng đèn Led, dài 120cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 bàn nhựa màu xanh dài 60cm, ngang 43cm, cao 50cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng hoàn toàn; 01 ghế dây gỗ dài 110cm, ngang 75cm, cao 110cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần; 02 ghế tựa lưng bằng kim loại dài 40cm, ngang 40cm, cao 100cm, đã qua sử dụng, hiện trạng hư hỏng một phần; 01 khung sườn xe mô tô biển số 65F1-778.49; 01 khung sườn xe mô tô biển số 66L1-181.75. Đồng thời, quá trình truy tố Viện kiểm sát ra quyết định trả lại cho Võ Thanh D 01 (một) xe máy biển số 65H2-7713 do D hoàn toàn không biết ông N dùng xe máy đến nhà bà Trần Thị K để hủy hoại tài sản; trả lại Võ Văn N 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng đục, 01 (một) áo thun màu xanh dương và 01 (một) quần sọt màu xanh đậm do không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp nên không đề nghị giải quyết.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không tham gia tranh luận, đồng thời xin giảm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người liên quan, người làm chứng đều không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Xét, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và kết luận định giá tài sản... Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 04/9/2024 Võ Văn N đã có hành vi dùng bật lửa (hộp quẹt gas) châm lửa đốt các tài sản thuộc quyền sở hữu của bị hại bà Trần Thị K với tổng giá trị thiệt hại tài sản qua định giá số tiền là 31.429.500 đồng với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi hủy hoại tài sản người khác là vi phạm pháp luật. Chỉ vì xuất phát từ vấn đề nhỏ về việc bị cáo đến nhà kêu bị hại mở cửa để nói chuyện nhưng do không thấy bị hại trả lời, bị cáo đã tức giận nên đã có hành vi dùng bật lửa châm đốt tài sản của bị hại, mặc dù bị cáo biết rõ nếu không được chữa cháy kịp thời sẽ gây hại đến toàn bộ tài sản trong sân nhà và nhà bị hại nhưng bị cáo bỏ mặc leo rào ra ngoài, điều khiển xe máy đi về nhà ngủ để mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án và tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau sự việc xảy ra bị cáo cũng đã nhận thấy được việc làm sai trái của bản thân nên đã vận động gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả xong cho bị hại; quá trình điều tra bị hại có đơn xin bãi nại và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, đủ điều kiện để vận dụng Điều 54 bộ luật hình sự để xem xét quyết định mức hình phạt thấp hơn quy định của Bộ luật hình sự cũng đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với đình và hòa nhập cộng đồng.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Võ Văn N 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn N phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - PTTG KV Thốt Nốt, TTG CA TPCT;
  • - Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn N phạm tội “Hủy hoại tài sản”. 1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Võ Văn N 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger