Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-3-2025

V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 392/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Q - sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình

*Bị đơn: Anh Đặng Văn T – sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Xóm C, thôn V, xã H, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Bùi Thị Q là nguyên đơn trình bày: chị và anh Đặng Văn T qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là xã H) năm 2011. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Ngoài ra, chị còn mâu thuẫn với gia đình nhà chồng và bị gia đình nhà chồng đuổi đi. Vì vậy, chị đưa hai con về ngoại ở ổn định từ năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị thỉnh thoảng cho các con về nội chơi nhưng anh T không hề có trách nhiệm kinh tế với ba mẹ con. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ly thân đã lâu mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh T. Về con chung: có 02 con là Đặng Bùi Bảo Y – sinh ngày 26/8/2012, Đặng Thị Hà V – sinh ngày 09/8/2015. Hiện hai cháu đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà giải quyết cho chị được nuôi cả 02 người con và không đề nghị Toà giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con. Từ khi ly thân, hai con ở ổn định với chị; các cháu đang ở ổn định môi trường ở, học tập và đều có nguyện vọng ở với chị. Hiện tại chị làm may tại địa phương thu nhập bình quân 06 triệu/tháng; chị đang ở nhà cùng với bố mẹ đẻ. Bản thân anh T cũng chưa có nhà riêng, đang ở chung với bố mẹ đẻ, anh T làm nghề lái xe công nông thuê. Về tài sản, công nợ chung: Chị không đề nghị Toà giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và các buổi làm việc tại Toà, bị đơn anh Đặng Văn T có ý kiến: anh và chị Bùi Thị Q qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2011. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Khoảng năm 2016, anh thấy có giọng con trai gọi điện cho chị Q, anh hỏi đầu bên bên kia không trả lời, hỏi chị Q là ai chị không trả lời nên anh có đánh đuổi chị Q ra khỏi nhà. Sau mấy tháng thì chị về đón cháu lớn và cách đây hai năm chị về đón cháu bé về quê ngoại ở vì chị cho rằng cho con về ngoại để kèm cặp học hành. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 02 con là Đặng Bùi Bảo Y – sinh ngày 26/8/2012, Đặng Thị Hà V – sinh ngày 09/8/2015. Hiện hai cháu đang ở với chị Q. Khi ly hôn, anh đề nghị Toà giải quyết mỗi người nuôi một chị Q nuôi cháu Y, anh nuôi cháu V, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Vì, cháu V chỉ mới về ở với chị Q khoảng hai năm nay; bản thân chị Q đi làm hai con đang ở nhờ nhà chị gái chị Q; trong khi đó mức lương của anh cao hơn mỗi tháng anh làm được 12.000.000 đồng. Đồng thời, trong thời gian sống ly thân, thỉnh thoảng anh vẫn lên đón các con về nội chơi và vì là ly hôn nên muốn được nuôi một con; môi trường học tập ở quê nội tốt hơn ở quê ngoại. Về tài sản, công nợ chung: anh không đề nghị Toà giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Đặng Văn T. Về con chung: giao chị Q là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đặng Bùi Bảo Y – sinh ngày 26/8/2012, Đặng Thị Hà V – sinh ngày 09/8/2015; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T. Chị Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Bùi Thị Q có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn anh Đặng Văn T và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Đặng Văn T có đăng ký nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/02/2025 nhưng vắng mặt của anh T nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh T vắng mặt không có lý do chính đáng, chị Q có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Q và anh Đặng Văn T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H, huyện Ứ, TP . ngày 04/11/2011 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị Q và anh T mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân mấy năm. Nay chị Q có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của chị Q và anh T mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Q là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị Bùi Thị Q và anh Đặng Văn T có 02 con chung Đặng Bùi Bảo Y – sinh ngày 26/8/2012, Đặng Thị Hà V – sinh ngày 09/8/2015; chị Q đề nghị được nuôi hai con, anh T đề nghị mỗi người nuôi một con.

Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và nguyện vọng của cháu thì Hội đồng xét xử thấy: chị Q và anh T đều chưa có nhà riêng; hai anh chị đều là lao động tự do nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Trong quá trình làm việc tại Toà, cả hai anh chị đều thừa nhận khi ly thân đã để chị Q nuôi hai con để còn kèm cặp các cháu học hành và các cháu vẫn về nội chơi, ở với bố và ông bà nội. Bản thân các cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ và cháu Y, cháu V là con gái nên cần sự chăm sóc, chỉ bảo của người mẹ trong giai đoạn thay đổi tâm sinh lý của tuổi dậy thì. Địa phương cũng có quan điểm: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị Q nuôi cháu Y, cháu V là phù hợp, đảm bảo cho các cháu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Q không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có thay đổi khác; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Bùi Thị Q và anh Đặng Văn T không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Q phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Đặng Văn T.

  2. Về con chung: Chị Bùi Thị Q và anh Đặng Văn T có 02 con chung. Khi ly hôn, giao chị Q là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Đặng Bùi Bảo Y – sinh ngày 26/8/2012 và cháu Đặng Thị Hà V – sinh ngày 09/8/2015; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Bùi Thị Q và anh Đặng Văn T đều không đề nghị Toà giải quyết.

  4. Về án phí: Chị Bùi Thị Q phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012086 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân & gia đình

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger