Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

***

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số 17/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu, ông Hà Quang Văn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Vũ Thúy Hường, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Trương Thanh Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST- HS ngày 26/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Bùi Hoàng A, tên gọi khác: không, sinh năm 1991 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Nơi cư trú: phố Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Đại H và bà Hoàng Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 07/01/2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn N ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn trong thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 07/4/2021, đã được xóa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024, chuyển tạm giam ngày 28/12/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

2. Bùi Văn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1987 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn B và bà Bùi Thị T1; có vợ là Trần Thị H1 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: tại Bản án số 91/2021/HS-ST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 17(mười bẩy)tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy“, chấp hành xong bản án ngày 06/01/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024, chuyển tạm giam ngày 28/12/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trương Văn H2, sinh năm 1971. Vắng mặt

Trú tại: xóm A, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình

Người làm chứng: bà Hoàng Thị L có mặt; ông Phạm Văn T2, anh Bùi Văn B1 đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Hoàng A là đối tượng sử dụng ma túy, để có tiền tiêu sài cá nhân, Hoàng A đã nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Chiều ngày 18/12/2024, Hoàng A đi nhờ xe của người đi đường không quen biết từ nhà ở phố Đ, thị trấn N đến khu vực cụm C, huyện G để tìm mua ma túy. Tại đây, Hoàng A gặp 01 người nam giới có biểu hiện giống người nghiện ma túy đang đứng bên đường. Sau khi trao đổi về việc mua ma túy, Hoàng A đã mua được của người này 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó Hoàng A đem túi ma túy vừa mua được về nhà, chia chất tinh thể màu trắng trong túi ma túy thành 03 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng một đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu. Hoàng A lấy 01 gói sử dụng hết, còn 02 gói giữ lại nhằm mục đích có ai hỏi mua thì bán.

Bùi Văn T cũng là đối tượng sử dụng ma túy, T có mối quan hệ quen biết với Hoàng A và biết Anh có ma túy để bán. Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 19/12/2024, T sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0968.056.447 gọi điện đến số thuê bao 0967.140.891 của Hoàng A và hỏi: “Anh có đá không để em túi hai”, ý T muốn mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. Hoàng A trả lời: “Có” và nói T chuyển tiền vào số tài khoản “9967140891” mở tại ngân hàng V của Hoàng A. Sau đó T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu sơn nâu, không biển kiểm soát, đến thị trấn N để lấy ma túy. Do không có tài khoản ngân hàng nên T đã vào cửa hàng tạp hóa của anh Trương Văn H2 sinh năm 1971, trú tại xóm A, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình và nhờ anh H2 chuyển số tiền mặt mệnh giá 200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Hoàng A để mua ma túy (anh H2 không biết T nhờ chuyển tiền để mua ma túy). T đưa 200.000 đồng tiền mặt cho anh H2, anh H2 đã thực hiện thao tác trên điện thoại di động cá nhân để chuyển khoản số tiền 195.000 đồng (anh H2 lấy công phí chuyển 5000đ) đến số tài khoản “9967140891” ngân hàng V của Hoàng A. Sau đó, T gọi điện cho Hoàng A thông báo đã chuyển số tiền 195.000 đồng vào tài khoản của Hoàng A, Hoàng A kiểm tra tài khoản thấy đã có tiền nên hẹn T đến khu vực gần trụ sở UBND thị trấn N, huyện N để lấy ma túy. Hoàng A bỏ 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng băng dính màu đỏ bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi cầm đi đến địa điểm đã hẹn. Khi Hoàng A đi đến khu vực gần tường trụ sở UBND thị trấn N thì chưa thấy T đến nên Hoàng A đã bỏ bao thuốc lá Thăng Long có chứa gói ma túy ở ven đường giáp với tường rào của UBND thị trấn N và gọi điện cho T để chỉ dẫn vị trí mà mình đã bỏ sẵn ma túy sau đó rời đi. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T một mình điều khiển xe mô tô đi theo chỉ dẫn của Hoàng A đến khu vực gần tường rào của UBND Thị trấn N thấy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, T cầm lên mở ra kiểm tra thấy 01 gói nhỏ được bọc bằng băng dính màu đỏ, bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng, xác định đúng là ma túy đá, T cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi trên đường Đ hướng đi xã L, huyện N để tìm nơi sử dụng ma túy.

Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ tuần tra Công an huyện N phối hợp với Công an xã L và Công an xã P làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự tại tuyến đường Đ, thuộc địa phận xóm C, xã L, huyện N phát hiện T đang ngồi trên xe mô tô không lắp biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu T xuống xe để kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, T đã tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái 01 vỏ bao bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói nhỏ, đồng thời khai nhận gói nhỏ là ma túy của T vừa mua về nhằm mục đích sử dụng. Tại chỗ, Tổ tuần tra tiến hành niêm phong gói nhỏ có đặc điểm trên vào phong bì ký hiệu A1 theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, thu giữ của Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh và niêm phong vào phong bì ký hiệu A2; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu sơn nâu, không lắp yếm xe, không lắp biển kiểm soát, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Tổ tuần tra đã đưa Bùi Văn T và vật chứng thu giữ về trụ sở Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình làm việc, Bùi Văn T khai nhận 01 gói ma túy có đặc điểm nêu trên là do T mua được của Bùi Hoàng A với giá 195.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Bùi Hoàng A ở phố Đ, thị trấn N, huyện N. Kết quả khám xét phát hiện 01 gói nhỏ bên ngoài là ống nhựa màu trắng dán kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong vào 01 phong bì ký hiệu K1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0967.140.891 được niêm phong theo quy định của pháp luật. Bùi Hoàng A khai nhận gói nhỏ trên là gói ma túy đá của Hoàng A cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nhỏ thu giữ của Bùi Văn T có khối lượng là 0,17 gam, ký hiệu QT01 và chất tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nhỏ thu giữ của Bùi Hoàng A có khối lượng là 0,23 gam, ký hiệu KX01. Gửi các mẫu ký hiệu QT 01 và KX 01 giám định xác định loại chất ma túy và khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 68/KT-KTHS-MT ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu QT01 có khối lượng là 0,1592 gam, ký hiệu KX01 có khối lượng 0,2264 gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu QT01, KX01 đều là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu QT01 còn lại có khối lượng 0,0915 gam, ký hiệu KX01 còn lại có khối lượng 0,1493 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã ra Quyết định chuyển các vật chứng gồm: 01 phong bì được niên phong theo quy định bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, lắp số thuê bao 0967.140.891; 01 phong bì được niêm phong theo quy định bên trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, lắp số thuê bao 0968.056.447; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 xe mô tô không lắp biển số, số khung: RLPDCGKUM5B000004, số máy VUMLPYG150FMG51190004; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Văn T; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Hoàng A; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu QT01 = 0.0915 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu KX01 = 0,1493 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Bùi Hoàng A, Bùi Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSNQ- HS ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố Bùi Hoàng A ra trước Tòa án nhân dân huyện Nho Quan để xét xử về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS); truy tố Bùi Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Nho Quan để xét xử về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 BLHS.

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nho Quan thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Hoàng A, Bùi Văn T như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng A phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Bùi Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), xử phạt bị cáo Bùi Hoàng A từ 30(ba mươi) tháng tù đến 36(ba sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2024; phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.0000,000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 18(mười tám) tháng tù đến 21(hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2024; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh và 01 xe mô tô khô ng lắp biển số, số khung: RLPDCGKUM5B000004, số máy VUMLPYG150FMG51190004; truy thu của bị cáo Bùi Hoàng A số tiền 195.000 đ (một trăm chín mươi lăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước; tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa số 04/LPT-ĐCSHS ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đối với số tiền 2.433 đồng trong tài khoản số: 9967140891 của Bùi Hoàng A mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N – chi nhánh N1 (V) cho đến khi bị cáo Bùi Hoàng A thực hiện xong các nghĩa vụ tài chính đã tuyên trong bản án này; tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Văn T; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Hoàng A; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu QT01 = 0.0915 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu KX01 = 0,1493 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 02 sim điện thoại 0967.140.xxx và 0968.056.447; 02 vỏ phong bì (dùng để niêm phong 02 chiếc điện thoại đã đề nghị tuyên tịch thu); các bị cáo phải nộp án phí theo luật định.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: tại phiên tòa các bị cáo Bùi Hoàng A, Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: xuất phát từ việc Bùi Hoàng A muốn kiếm tiền bất chính nên chiều ngày 18/12/2024, Bùi Hoàng A đi đến khu vực cụm C, huyện G để tìm mua ma túy. Tại đây, Hoàng A gặp và mua được từ 01 người nam giới không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó Bùi Hoàng A đem túi ma túy vừa mua được về nhà chia chất tinh thể màu trắng trong túi ma túy thành 03 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng một đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu. Bùi Hoàng A lấy 01 gói sử dụng hết, còn 02 gói giữ lại nhằm mục đích có ai hỏi mua thì bán.

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 19/12/2024, Bùi Văn T gọi điện thoại cho Bùi Hoàng A và hỏi mua ma túy thì Bùi Hoàng A đã đồng ý và T đã nhờ anh Trương Văn H2 chuyển khoản cho Bùi Hoàng A số tiền 195.000 đồng và Bùi Hoàng A đã hẹn T đến lấy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong chứa 01 gói nhỏ được bọc bằng băng dính màu đỏ, bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng đặt tại vị trí ở ven đường giáp với tường rào của UBND thị trấn N. Bùi Văn T đã đến vị trí nêu trên và nhận hàng, sau đó T điều khiển xe mô tô đi trên đường Đ hướng đi xã L, huyện N để tìm nơi sử dụng ma túy.

Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ tuần tra Công an huyện N phối hợp với Công an xã L và Công an xã P làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự tại tuyến đường Đ, thuộc địa phận xóm C, xã L, huyện N phát hiện T đang ngồi trên xe mô tô không lắp biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu T xuống xe để kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, T đã tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái 01 vỏ bao bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói nhỏ, đồng thời khai nhận gói nhỏ là ma túy của T vừa mua về nhằm mục đích sử dụng.

Mở rộng điều tra, tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Bùi Hoàng A, cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ 01 gói nhỏ bên ngoài là ống nhựa màu trắng dán kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong vào 01 phong bì ký hiệu K1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0967.140.891 được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Như vậy, rõ ràng bị cáo Bùi Hoàng A đã có hành vi 01 lần bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Bùi Văn T chiếm hưởng số tiền bất chính 195.000 đồng và còn cất giấu 0,2264 gam ma túy, loại Methamphetamine tại nơi ở của mình nhằm để bán. Còn Bùi Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,1592 gam ma túy loại Methamphetamine nhắm để sử dụng đúng như các kết luận giám định và Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Hoàng A đã phạm tội “ mua bán trái phép chất ma túy” ; hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của các bị cáo và số lần bán, khối lượng Methamphetamine mà bị cáo cất giấu nhằm để sử dụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan truy tố bị cáo Bùi Hoàng A theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của BLHS; truy tố bị cáo Bùi Văn T theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam....5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy. 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. "

[3]. Về vai trò: đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Bùi Hoàng A là người chủ động mua ma túy về bán kiếm lời cho các con nghiện nên giữ vai trò đầu; bị cáo Bùi Văn T giữ vai trò thứ hai.

[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

[5]. Bản thân các bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Bùi Hoàng A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Bùi Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy các bị cáo phạm tội nghiêm trọng và là người có nhân thân xấu nên cần có một hình phạt nghiêm minh đối với các bị cáo bằng việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương đối dài mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8]. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo Bùi Hoàng A mua bán trái phép chất ma túy nhằm có mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Bùi Hoàng A. Đối với vị cáo Bùi Văn T việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T là thỏa đáng.

[9]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh; 01 phong bì được niêm phong theo quy định bên trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là thỏa đáng. Đối với 01 xe mô tô không lắp biển số, số khung: RLPDCGKUM5B000004, số máy VUMLPYG150FMG51190004 là xe của bị cáo Bùi Văn T, được Bùi Văn T sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng. Tại phiên tòa Bùi Văn T cũng đề nghị HĐXX tịch thu nộp ngân sách Nhà nước do đó cũng cần tuyên HĐXX tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiễ xe nêu trên.

Đối với số tiền 195.000 đ (một trăm chín mươi lăm nghìn đồng) Bùi Hoàng A thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép ma túy cần truy thu để nộp ngân sách Nhà nước;

Đối với lệnh phong tỏa số 04/LPT-ĐCSHS ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đối với số tiền 2.433 đồng trong tài khoản số: 9967140891 của Bùi Hoàng A mở tại Ngân hàng TMCP N – chi nhánh N1 (V) cần tiếp tục duy trì cho đến khi bị cáo Bùi Hoàng A thực hiện xong các nghĩa vụ tài chính đã tuyên trong bản án này thì lệnh phong tỏa tài khoản nêu trên sẽ được hủy bỏ.

Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Văn T; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Hoàng A; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu QT01 = 0.0915 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu KX01 = 0,1493 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 02 sim điện thoại 0967.140.xxx và 0968.056.447; 02 vỏ phong bì (dùng để niêm phong 02 điện thoại di động, gồm một chiếc nhãn hiệu SAMSUNG và 01 chiếc nhãn hiệu VIVO) là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Hoàng A ngày 18/12/2024 (theo lời khai của Bùi Hoàng A) ở khu vực cụm C, huyện G. Do Bùi Hoàng A không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên không có cơ sở để xác minh điều tra làm rõ. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với anh Trương Văn H2 là người được Bùi Văn T nhờ chuyển số tiền 195.000 đồng đến Bùi Hoàng A. Quá trình điều tra xác định anh H2 không biết T chuyển tiền để mua ma túy, đối với số tiền 5.000 đồng do T tự nguyện trả cho anh H2 để làm phí công chuyển tiền nên không có căn cứ xử lý đối với số tiền 5.000 đồng nêu trên và anh H2 không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

[10] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Bùi Hoàng A; Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Bùi Văn T:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng A phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Bùi Văn T phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng A 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2024. Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đ(năm triệu đồng) đối với bị cáo Bùi Hoàng A để nộp ngân sách Nhà nước. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh và 01 xe mô tô không lắp biển số, số khung: RLPDCGKUM5B000004, số máy VUMLPYG150FMG51190004.
    • - Truy thu của bị cáo Bùi Hoàng A số tiền 195.000 đ (một trăm chín mươi lăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa số 04/LPT-ĐCSHS ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đối với số tiền 2.433 đ (hai nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng) trong tài khoản số: 9967140891 của Bùi Hoàng A mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N – chi nhánh N1 (V) cho đến khi bị cáo Bùi Hoàng A thực hiện xong các nghĩa vụ tài chính đã tuyên trong bản án này.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Văn T; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ bao gói phong bì niêm phong cũ của Bùi Hoàng A; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu QT01 = 0.0915 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định là mẫu vật hoàn trả giám định ghi số 68/KL-KTHS-MT, bên trong mẫu ký hiệu KX01 = 0,1493 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 02 sim điện thoại 0967.140.xxx và 0968.056.447; 02 vỏ phong bì (dùng để niêm phong 02 điện thoại di động, gồm một chiếc nhãn hiệu SAMSUNG và 01 chiếc nhãn hiệu VIVO) (đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N).
  3. Về án phí: các bị cáo Bùi Hoàng A, Bùi Văn T mỗi người phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THADS huyện Nho Quan;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Hoàng A - Bùi Văn T Mua bán và TT ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger