Hệ thống pháp luật

=TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.
  • Các Hội thẩm nhân dân :
    • Ông Đàm Chí Thân;
    • Ông Bùi Văn Thắng.
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST- HS, ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với các bị cáo :

1. Bùi Văn G

  • (giới tính: nam), sinh ngày: 19/4/1993, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Nơi cư trú: thôn B, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 7/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Văn H và bà Lương Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022.
  • Tiền án; Tiền sự: không có;
  • Nhân thân: ngày 30/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 30/6/2019 chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 19/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn Đ

  • (giới tính: nam), sinh ngày: 23/12/1990, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Văn L và bà Dương Thị T1. Bị cáo có vợ là Đoàn Thị Trang T2 và có 2 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.
  • Tiền án: Ngày 30/11/2021, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 07/4/2023, chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • Tiền sự: không có.

Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ tạm giam từ ngày 18/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Lưu Văn H2, anh Phạm Văn H3.

Người chứng kiến: Bà Phạm Thị H4.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 18/11/2024, Công an phường T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Lưu Văn H2 - sinh năm 1995, tại khu B, phường T, thị xã Q (nghi có biểu hiện thực hiện tội phạm). H2 khai nhận trước đó đã một mình sử dụng ma túy “đá” mua của Phạm Văn Đ trú tại thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vào khoảng 21h ngày 16/11/2024 với giá 1.000.000 đồng. Cùng ngày Cơ quan điều tra tiến hành giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn Đ và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

Mở rộng điều tra, xác định: Phạm Văn Đ, Bùi Văn G và Lưu Văn H2 là bạn bè quen biết với nhau từ trước, khoảng 19 giờ 50 phút ngày 16/11/2024, Đ đang ở nhà thì Lưu Văn H2 điện thoại từ số 0842.822.xxx vào số 0332.303.676 của Đ hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”, Đ đồng ý và bảo H2 chuyển tiền vào tài khoản số 0965.026.438 Ngân hàng M của Đ. Do không có sẵn ma túy, Đ gọi điện mua của Bùi Văn G 1.000.000 đồng ma túy “đá”. G bảo Đ chuyển tiền vào tài khoản của G số 8002205261110 Ngân hàng A và đến nhận ma túy tại khu vực cổng trường C, thuộc khu G, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Đ đến địa điểm trên, G đưa cho Đ 01 túi nilon bên trong chứa ma túy (loại túi có khóa kẹp, kích thước khoảng 2x2cm). Sau đó Đ gọi điện cho H2, khoảng 10 phút sau H2 nhờ anh Phạm Văn H3 chở đến nơi Đ đưa ma túy cho H2.

Tiếp đó khoảng 11h ngày 17/11/2024, Phạm Văn Đ điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá” của Bùi Văn G để sử dụng. G đồng ý, thống nhất địa điểm giao dịch tại khu vực ngõ N thuộc thôn B, xã T, thị xã Q. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày Đ đến nơi, G đưa cho Đ 01 túi nilon (loại túi có khóa kẹp, kích thước khoảng (02x02)cm bên trong chứa ma túy “đá”).

Ngày 19/11/2024 Bùi Văn G bị cơ quan điều tra giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Phạm Văn Đ khai quen và biết G bán ma túy, do H2 là bạn nên không lấy lãi tiền bán ma túy. Các giao dịch mua bán ma túy giữa G với Đ, H2 vào ngày 16/11/2024 và ngày 17/11/2024 Đ ghi nội dung chuyển khoản thể hiện bằng kí hiệu “gg” và “Tienmuon” để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Bùi Văn G khai nguồn gốc ma túy do G mua của một người không quen biết tại khu vực phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh với số tiền 2.000.000 đồng. Việc mua bán thực hiện trực tiếp, G không nhận dạng được người bán ma túy.

Về vật chứng: 02 chiếc điện thoại di động do các bị cáo sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội, đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên để xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 1348/CT-VKSQY, ngày 13/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Bùi Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS), bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận như sau: Do có mối quan hệ quen biết nhau nên tối ngày 16/11/2024 Lưu Văn H2 nhà ở khu B, phường T, thị xã Q gọi điện thoại cho Đ hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”, Đ đồng ý và bảo H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Đ, do không có sẵn ma túy nên Đ gọi điện mua và sau đó chuyển tiền vào tài khoản của Bùi Văn G nhà ở thôn B, xã T thị xã Q 1.000.000 đồng ma túy “đá”, sau khi Đ chuyển tiền khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực cổng trường C thuộc khu G, xã T, G đưa cho Đ 01 túi nilon bên trong chứa ma túy (loại túi có khóa kẹp, kích thước khoảng 2x2cm). Sau đó Đ gọi điện cho Lưu Văn H2, khoảng 10 phút sau H2 nhờ anh Phạm Văn H3 chở đến nơi Đ đưa ma túy cho H2.

Ngoài ra Đ còn khai ngoài lần mua ma túy này từ G, ngày 17/11/2024 Đ còn mua ma túy của G 500.000đồng ma túy đá về để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo Bùi Văn G có lời khai tương tự bị cáo Đ, xác nhận đã hai lần bán ma túy cho Đ vào ngày 16/11/2024 với số tiền 1.000.000đồng và ngày 17/11/2024 với số tiền 500.000đồng, việc giao ma túy và chuyển tiền đúng như bị cáo Đ khai, đối với số ma túy này G mua của một người đàn ông không quen biết ở phường T thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

Người làm chứng, anh Lưu Văn H2 có lời khai xác nhận ngày 18/11/2024 bị lực lượng công an kiểm tra hành chính và H2 có khai có sử dụng ma túy vào ngày 16/11/2024, số ma túy H2 sử dụng là mua của Phạm Văn Đ.

Người làm chứng, anh Phạm Văn H3 có lời khai xác nhận tối ngày 16/11/2025 được Lưu Văn H2 nhờ chở đi lấy thuốc mà H2 nói là thuốc sâu răng của một người anh không quen biết, anh không biết là H2 đi mua ma túy.

Người chứng kiến, bà Phạm Thị H4 có lời khai xác nhận hồi 09 giờ 20 phút ngày 18/11/2024 bà chứng kiến việc Công an thị xã Q kiểm tra hành chính nhà của anh Lưu Văn H2 tại khu B, phường T thị xã Q, H2 khai có sử dụng ma túy một mình vào ngày 16/11/2024, ma túy H2 mua của Phạm Văn Đ với giá 1.000.000đồng.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng: đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Văn G từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn G và Phạm Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố:

Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản kiểm tra hành chính, Bản ảnh, Sơ đồ hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, các Biên bản kiểm tra điện thoại, các dữ liệu thông tin chuyển khoản, tài khoản ngân hàng,... đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Ngày 16/11/2024, tại khu G, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn G đã bán 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Phạm Văn Đ với giá 1.000.000 đồng, sau đó Đ đã bán lại cho Lưu Văn H2 với số tiền 1.000.000 đồng. Ngày 17/11/2024, tại thôn B, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn G đã bán cho Phạm Văn Đ 01 túi ma túy đá loại Methmphetamine với giá 500.000 đồng để Đ sử dụng.

Cáo trạng số 1348/CT-VKSQY, ngày 13/02/2025 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Bùi Văn G và Phạm Văn Đ là có căn cứ pháp luật.

Hành vi của bị cáo G đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; hành vi của bị cáo Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, nhất là các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy trên địa bàn ngày càng diễn biến phức tạp. Để góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi hiểm họa về chất ma túy trên địa bàn thị xã Q và giáo dục cải tạo các bị cáo, cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, với những chứng cứ nêu trên, HĐXX thấy có đủ căn cứ pháp luật để xét xử bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật. Vụ án tuy hai bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không có vai trò đồng phạm; bị cáo G 2 lần bán ma túy cho Đ và có nhân thân xấu; bị cáo Đ hai lần mua ma túy từ G nhưng chỉ một lần bán cho H2, còn một lần mua về sử dụng cho bản thân và bị cáo có một tiền án thuộc trường hợp tái phạm do đó bị cáo G phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Đ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo G không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Đ chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, tuy nhiên bị cáo G nhân thân xấu, bị cáo Đ có một tiền án thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, HĐXX xét với tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo chính bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều có nghề nghiệp thu nhập không ổn định, HĐXX thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Quá trình điều tra, không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho G nên không có căn cứ xử lý, HĐXX không đề cập.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Văn H2, Công an thị xã Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, HĐXX không đề cập.

Đối với anh Phạm Văn H3 là người được Lưu Văn H2 nhờ chở đi mua ma túy từ bị cáo Đ nhưng H2 nói với anh H3 là đi mua thuốc, anh H3 không biết là mua ma túy, HĐXX không đề cập.

Đối với số tiền 1.500.000đồng bị cáo G hai lần bán ma túy cho bị cáo Đ mà có, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

[4] Về vật chứng của vụ án: 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Bùi Văn G.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Phạm Văn Đ.

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn G và Phạm Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt:

  • Bùi Văn G 7 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2024.
  • Phạm Văn Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024.

Về xử lý vật chứng:

áp dụng điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung vỏ màu đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung vỏ màu xanh; tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại gắn kèm điện thoại. Những vật chứng này có đặc điểm được bàn giao trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, ngày 13/02/2025.

Truy thu bị cáo Bùi Văn G 1.500.000đồng sung ngân sách nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo:

áp dụng khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Buộc các bị cáo Bùi Văn G và Phạm Văn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thị xã Quảng Yên;
  • - Phòng PC06 CA Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án dân sự, HS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn G phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger