Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 13/3/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Man Anh Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Đức C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP P, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Hồng K (đã chết) và bà Phạm Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2022 bị Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi: Xâm hại đến sức khoẻ của người khác theo Quyết định số 21/QĐ-XPHC ngày 05/5/2022. Đến ngày 29/6/2023 bị cáo mới chấp hành nộp phạt xong.

Bị cáo không bị giam, giữ được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Ông Hoàng Tiến S (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Hoàng Bảo T, sinh năm 1995; Trú tại: Xóm H, xã P, thành phố P)

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố P, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;

2. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: TDP P, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

Người làm chứng: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1993; Trú tại: TDP C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 44 phút ngày 26/3/2024, Phạm Đức C, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố P, Phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên một mình điều khiển xe ô tô BKS: 20A – 715.74, nhãn hiệu Mazda màu sơn trắng (xe do C mượn của anh Nguyễn Văn T1) để đi đến bệnh viện Q thăm anh T1 đang nằm điều trị tại bệnh viện. Trong quá trình điều khiển phương tiện do không chú ý quan sát nên khi đi đến đoạn ngã tư giao nhau trong khu dân cư VIF thuộc tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì xe ô tô của C đâm va với xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 do ông Hoàng Tiến S đang điều khiển đi từ phía bên phải đến. Hậu quả ông Hoàng Tiến S bị thương phải đưa đến bệnh viện Q cấp cứu nhưng do bị thương quá nặng nên ông S đã tử vong. Hai phương tiện sau va chạm bị hư hỏng một phần.

Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng đến tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được xác định là đoạn đường trong khu dân dư VIF thuộc địa phận tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, hướng đi từ đường tỉnh lộ 261 đi phố đi bộ. Khu vực xảy ra tai nạn được xác định là tại ngã tư giao nhau giữa đoạn đường đi từ đường tỉnh lộ 261 đến phố đi bộ với đoạn đường nối từ đường đi cổng sau Bệnh viện Q đến đoạn đường nối vào cổng Trung tâm y tế P1. Đoạn đường đi từ đường tỉnh lộ 261 đi phố đi bộ được (ký hiệu là A), đoạn đường nối từ đường đi cổng sau Bệnh viện Q đến đoạn đường nối vào cổng Trung tâm y tế P1 được (ký hiệu là B). Đường A được chia làm 02 đoạn, đoạn thứ nhất được tính từ ngã tư nơi xảy ra tai nạn trở về đường tỉnh lộ 261, đoạn này được chia làm hai chiều đường có dải phân cách cứng ở giữa rộng 1,5m,

chiều đường bên phải theo hướng đường tỉnh lộ 261 rộng 6,0m. Đoạn thứ hai tính từ ngã tư nơi xảy ra tai nạn đến đầu đường phố đi bộ có chiều rộng lòng đường 7,56m. Đường B có chiều rộng lòng đường là 6,2m, lối mở tại ngã tư giao cắt của đường A có chiều rộng nhất là 26,4m và 19,4m, lối mở tại ngã tư giao cắt của đường B có chiều rộng nhất là 13,5m. Đường A và đường B đều được trải nhựa thẳng phẳng.

Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận các vị trí, dấu vết như sau:

(1) là vết trượt lốp kích thước (1,6x0,15)m; (2) là vết cà trượt mặt đường đứt đoạn kích thước (4,9 x 0,02)m; (3) là xe mô tô BKS: 20M4 - 8935; (4) là vùng nhựa vỡ kích thước (9,5 x 2,6)m. Xác định mốc cố định, hướng khám nghiệm, mép đường chuẩn, phương pháp đo: Chọn hướng đường tỉnh lộ 261 đi phố đi bộ làm hướng khám nghiệm; Chọn mép phải đường của đường A làm mép đường chuẩn; Chọn điểm đầu của dải phân cách cứng trên đường A làm mốc cố định; Chọn phương pháp đo hình chiếu vuông góc.

Mô tả hiện trường: (1) là vết trượt lốp kích thước (1,6 x 0,15)m, đo từ điểm đầu và điểm cuối vết (1) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 3,55m và 3,3m, (1) có hình dạng vòng cung; (2) là vết cà trượt mặt đường đứt đoạn kích thước (4,9 x 0,02)m, (2) có chiều hướng đường tỉnh lộ 261 đi phố đi bộ, đo từ điểm đầu và cuối vết (2) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 3,05m và 2,03m; (3) là xe mô tô BKS: 20M4 - 8935 đang đổ nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng phố đi bộ, đuôi xe quay hướng đường tỉnh lộ 261. Đo từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe (3) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 2,65m và 2,6m; (4) là vùng nhựa vỡ kích thước (9,5 x 2,6)m, đo từ tâm (4) vào mép đường chuẩn được 1,9m. Đo từ mốc cố định đến điểm đầu vết (1) được 10,2m; Đo từ điểm đầu vết (1) đến điểm đầu vết (2) được 0,8m; Đo từ điểm cuối vết (2) đến tâm vùng (4) được 0,2m; Đo từ tâm vùng (4) đến tâm trục bánh sau xe (3) được 0,3m.

Kết quả khám nghiệm tử thi: Tử thi mặc quần dài màu nâu, áo cộc tay màu nâu, bên trong mặc áo cộc tay màu đỏ, quần sịp màu xám. Tử thi là nam giới được xác định là Hoàng Tiến S, sinh năm 1964, trú tại: xóm H, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Chiều dài tử thi 1,55 m; Thể tạng: Trung bình; Tình trạng tử thi: Lạnh, không được bảo quản theo quy chuẩn. Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể: Miệng có máu chảy ra khi thay đổi tư thế, bụng căng chướng; Hoen tử thi sẫm màu, tập trung ở mặt sau cơ thể; Hố mắt phải có vết sây sát da bầm tím kích thước (6 x 1,5) cm; Môi dưới bị sây sát da kích thước (1x0,5) cm; Mạn sườn bên trái có vết sây sát da kích thước (2x1,5)cm; Mu bàn tay hai bên bị sây sát, mài trượt da rải rác; Vùng lưng có vết sây sát da kích thước (2,5 x 2) cm; Đầu gối trái có vết sây sát da kích thước (1 x 1) cm, đầu gối phải có vết sây sát da kích thước (2 x 1) cm; Mu bàn chân trái có vết sây sát

da kích thước (1x0,6) cm, mu bàn chân phải sây sát da rải rác; Vùng khoeo chân phải có vết sây sát da kích thước (7 x 3)cm; Mắt cá ngoài bên trái có vết sây sát da kích thước (1 x 0,5) cm. Mổ tử thi: Gãy cung bên xương sườn 3, 4, 5, 6, 7 bên trái; Gãy cung trước xương sườn 2, 3, 4 bên phải; Tràn khí dưới da vùng ngực, bụng; Trong khoang ngực có nhiều máu không đông; Hai phổi bị dập rách rải rác. Tiến hành thu mẫu máu và mẫu nước tiểu của tử thi và tiến hành niêm phong theo quy định.

Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 mất hai gương chiếu hậu; Vỡ đèn xi nhan trước phải; Vỡ mất mặt nạ; Dập vỡ mất cánh yếm phải, trái; Vỡ mất chắn bùn sau bánh trước; C1 gương trước phải có vết mài trượt xước kim loại kích thước (2,5 x 1) cm, cao cách đất 110 cm; Đầu ngoài tay nắm phải có vết mài trượt xước kim loại kích thước (3 x 3) cm, cao cách đất 100 cm; Đầu ngoài tay phanh trước có vết mài trượt xước kim loại kích thước (2 x 1,5) cm, cao cách đất 93 cm; Chân phanh có vết mài trượt xước kim loại kích thước (3 x 0,5) cm, cao cách đất 31 cm; Ốp pô có vết mài trượt xước kim loại kích thước (50 x 9) cm, cao cách đất 30 cm; Để chân trước phải có vết mài trượt xước kim loại kích thước (4 x 2,5) cm, cao cách đất 32 cm. Hệ thống còi xe, phanh sau, phanh trước hoạt động bình thường. Đèn pha, đèn hậu, đèn xi nhan không kiểm tra được do xe không khởi động được.

Xe ô tô BKS: 20A-715.74 đứt chân crom mặt nạ trước; Ba đờ sốc trước phải xe bị ngoại lực tác động gây móp méo, biến dạng phức tạp trong vùng kích thước (70 x 57) cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 16 cm, tại vùng này có bám dính vật chất dạng sơn màu đỏ rải rác tại vị trí phía trên đèn led và dưới đèn pha phải; Phía dưới đèn led trước phải có bám dính vật chất dạng sơn màu đen kích thước (5 x 5) cm, cao cách đất 30 cm; Vỡ đèn bi led phía trước phải; Toàn bộ tại xe bên phải bị ngoại lực tác động gây móp méo, biến dạng phức tạp, bong tróc sơn, làm bung bật ốp của lốp trước phải; Nắp capo tại phần trên tai phải xe bị ngoại lực tác động từ phải sang trái gây móp kích thước (15 x 2) cm, cao cách đất 106 cm; Gương chiếu hậu bên phải bị gãy mô tơ, bung bật ốp dưới cánh cửa bên phải; Cánh cửa trước phải bị ngoại lực tác động làm xước sơn, móp vùng kích thước (80 x 18) cm, điểm thấp nhất cao cách đất 28 cm; Tai cánh cửa trước phải tiếp giáp tai xe phải có vết dập móp kích thước (16 x 13) cm, cao cách đất 80 cm.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Đức C ngày 26/3/2024 sau khi xảy ra tai nạn có kết quả là: 0 Mg/L. Tại bản kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Phạm Đức C vào ngày 26/3/2024 là: Âm tính; Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Hoàng Tiến S vào ngày 26/3/2024 là: 10.01 mmol/L; Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Hoàng Tiến S vào ngày 26/3/2024 là: Âm tính.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 549/KLGĐTT-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Tiến S là do bị chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, dập rách hai phổi, tràn khí, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KLĐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 20M4 - 8935 là 760.000 đồng. Tại bản kết luận định giá số 38/KLĐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS 20A-715.74 là 12.725.440 đồng.

Tại biên bản xác định lại hiện trường thể hiện: Chọn hướng ghi nhận các vị trí là hướng tỉnh lộ 261 đi phố đi bộ; Chọn mép phải đường theo hướng ghi nhận các vị trí là mép đường chuẩn; Chọn điểm đầu của dải phân cách trên đường A làm mốc cố định. Quá trình làm việc, Cơ quan điều tra cho Phạm Đức C tự xác định vị trí xảy ra đâm va giữa hai phương tiện trên và vị trí của hai phương tiện sau khi xảy ra đâm va. Sau khi xác định được các vị trí theo lời trình bày của Phạm Đức C đối chiếu với dữ liệu trích xuất camera. Cơ quan điều tra xác định được các vị trí và ký hiệu trên sơ đồ hiện trường cụ thể như sau:

(1) là vị trí xe ô tô BKS: 20A - 715.74 khi xảy ra đâm va, Vị trí (2) là vị trí xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 khi xảy ra đâm va. Vị trí (3) là vị trí xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 đổ trên đường sau khi xảy ra tai nạn. Vị trí (4) là vị trí xe ô tô BKS: 20A – 715.74 dừng đỗ sau khi xảy ra tai nạn. Xác nhận vị trí các phương tiện như sau: Tại vị trí (1) đo từ tâm trục bánh sau và bánh trước xe kí hiệu (1) vào mốc cố định được lần lượt là: 6,2 mét và 8,75 mét; Do từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe kí hiệu (1) vào mép đường chuẩn được là 3,9 mét và 3,6 mét; Tại vị trí (2) đo từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe kí hiệu (2) vào mốc cố định đều được 9,75 mét; Đo từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe kí hiệu (2) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 3,8 mét và 2,7 mét; Tiến hành đo từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe kí hiệu (3) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 2,65 mét và 2,6 mét; Tại vị trí (4) đo từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe kí hiệu (4) vào mép đường chuẩn đượt lần lượt là 4,5 mét và 4,45 mét; đo từ tâm trục bánh sau xe kí hiệu (4) vào mốc cố định được 24,2 mét; đo từ tâm trục bánh trước xe kí hiệu (3) đến tâm trục bánh sau phải xe kí hiệu (4) được 7,5 mét.

Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra có Văn bản số 676/CSĐT gửi Phòng Quản lý đô thị UBND thành phố P về việc cung cấp thông tin về đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn nêu trên. Qua làm việc, Phòng quản lý đô thị thuộc

UBND thành phố P cung cấp: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn nêu trên là đoạn đường thuộc dự án khu dân cư Y, chưa được bàn giao đưa vào khai thác sử dụng. Do vậy, đoạn đường này không phải là đường trong hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Đức C khai nhận: Sáng ngày 26/3/2024, C được biết anh Nguyễn Văn T1 mổ sỏi thận tại Bệnh viện Q nên đã liên lạc với anh T1 hỏi mượn chiếc xe ô tô BKS: 20A-715.74 của T1 để đến bệnh viện thăm thì được T1 đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, C một mình điều khiển xe ô tô BKS: 20A-715.74 đi từ nhà đến Bệnh viện Q để thăm anh T1. Trên đường đi đến đoạn đường đôi hướng đi Bệnh viện Q, C điều khiển xe ô tô rẽ phải vào đường dân sinh của khu dân cư VIF thuộc tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Khi đi đến đoạn ngã tư đường giao nhau C không chú ý quan sát và giảm tốc độ để nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS: 20M4 - 8935 do ông Hoàng Tiến S điều khiển đi từ bên phải đến làm ông S đổ xe ngã văng ra đường, sau đó C cùng người dân đưa ông S đến Bệnh viện Q cấp cứu nhưng do bị thương nặng ông S đã tử vong.

Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô BKS: 20A – 715.14 được trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 được trả lại cho anh Hoàng Bảo T là người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của gia đình bị hại quản lý, sử dụng; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Phạm Đức C;

Về phần trách nhiệm dân sự: Các bên liên quan đã giải quyết xong, gia đình bị cáo Phạm Đức C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Hoàng Tiến S số tiền 130.000.000 đồng và không còn yêu cầu bồi thường gì khác, đại diện gia đình ông S đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.

Với nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 23/CT-VKSPY ngày 23/1/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Đức C về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Đức C về tội “Vô ý làm chết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức C phạm tội “Vô ý làm chết người”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 128, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Đức C từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo C đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng, gia đình bị hại không đề nghị gì thêm nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Đề nghị trả lại cho bị cáo Phạm Đức C 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Đức C.

5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức C đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có thể được chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người đại diện hợp pháp cho bị hại là anh Hoàng Bảo T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng là anh Trần Văn T2 vắng mặt. Xét thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Đức C tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra như kết quả khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện,..., Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 44 phút ngày 26/3/2024, Phạm Đức C một mình điều khiển xe ô tô BKS: 20A – 715.74, nhãn hiệu Mazda màu sơn trắng đi trên đoạn đường thuộc khu dân cư chưa được bàn giao đưa vào khai thác sử dụng và không nằm trong hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam. Khi C điều khiển cho xe đi đến đoạn ngã tư giao nhau trong khu vực dân cư VIF, thuộc tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, do C không không chú ý quan sát và không cho xe giảm tốc độ nên phần đầu xe ô tô do C điều khiển đã đâm va với xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS: 20M4 – 8935 do ông Hoàng Tiến S điều khiển đi từ phía bên phải đến làm ông S ngã ra đường bị chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, dập rách hai phổi, tràn khí, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết, tài sản bị thiệt hại với tổng giá trị là 13.485.440 đồng (trong đó xe mô tô BKS : 20M4-8935 bị thiệt hại giá trị là 760.000 đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ra sự mất mát, đau thương cho gia đình nạn nhân. Mặc dù bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, nhưng cũng cần xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dụng riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xem xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại do bị cáo gây ra cho gia đình bị hại. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xem xét nhân thân của bị cáo thấy rằng, bị cáo C là người có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền sự. Năm 2022 bị Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khoẻ của người khác,

chấp hành nộp phạt vào ngày 29/6/2023, tính đến ngày phạm tội (26/3/2024) thì vẫn còn trong thời hạn 01 năm. Đối chiếu quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, lại không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nên khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhưng cũng cần để đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo thành một công dân tốt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Phạm Đức C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm đối với thiệt hại về sức khỏe và tài sản. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận giữa bị cáo và gia đình bị hại đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự.

Đối với anh Nguyễn Văn T1 là chủ của chiếc xe ô tô BKS 20A–715.74 cũng không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô BKS: 20A – 715.14 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô BKS: 20M4 – 8935 được trả lại cho anh Hoàng Bảo T là người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của gia đình bị hại quản lý, sử dụng. Việc trả lại của Cơ quan điều tra là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Đức C là giấy tờ của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa cho bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức C phạm tội "Vô ý làm chết người";

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Phạm Đức C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Trả lại cho bị cáo Phạm Đức C 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Đức C.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vô ý làm chết người

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 12 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger