Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 13-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu

Thẩm phán tham gia: Ông Võ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Phong, ông Vũ Xuân Mai và bà Trần Thị Phương Thảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2025 đối với bị cáo:

Phàng A B, sinh năm 2001 tại tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản P, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A S, sinh năm 1985 và bà Thào Thị M, sinh năm 1986; có vợ là Vàng Thị L, sinh năm 2000 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 57/2024/HSST ngày 27-12-2024 bị Toà án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03-10-2024, đang tạm giam - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Y L1 (có mặt) và ông Phạm Quang L2 (có đơn xin xét xử vắng mặt) là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ thuộc Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông.

Địa chỉ: Số A đường C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị X – Vắng mặt.

Địa chỉ: tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/9/2024 Phàng A được một đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng ứng dụng Messenger từ tài khoản Facebook "ZajLiab AibNtawv" gọi đến tài khoản Facebook "Fang Hmoob" của B, để gặp và thuê B vận chuyển 02 bánh Heroin từ tỉnh Thanh Hóa đến giao cho đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở tỉnh Đăk Nông với giá tiền công là 10.000.000 đồng. Sau khi B đồng ý, đối tượng tên T đã giao 02 bánh Heroin, số điện thoại của đối tượng T1 và ứng trước 1.000.000 đồng tiền công cho B. Ngày 01/10/2024 B mang 02 bánh Heroin, đón xe khách đi từ tỉnh Thanh Hóa, khoảng 09 giờ ngày 03/10/2024 khi đến thành phố G, tỉnh Đắk Nông, B sử dụng số điện thoại 0348.103.xxx gọi điện thoại đến số 0832.964.xxx báo cho đối tượng T1 biết để đến gặp B nhận 02 bánh Heroin. Khoảng 30 phút sau, đối tượng tên T1 đi xe mô tô (chưa xác định được biển kiểm soát) đến gặp và chở B đến thuê phòng số 202 nhà nghỉ G (do bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960 là chủ sở hữu tại tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) để giao H. Tại đây, khi B lấy 02 bánh Heroin đưa cho đối tượng Thống, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt quả tang; thu giữ 02 bánh Heroin, riêng đối tượng tên T1 bỏ chạy.

Tại bản Kết luận giám định số 447/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: 02 khối chất rắn màu trắng dạng hình hộp chữ nhật có cùng kích thước (15,5 x 10,5 x 2,2) cm, bên ngoài được bọc các lớp bao bì, được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu lần lượt là 332,58 gam va 353,54 gam. Tổng khối lượng mẫu là 686,12 gam.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSĐN-P1 ngày 30-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Phàng A B về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phàng A phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phàng A B Tù chung thân; Áp dụng Điều 56 của BLHS, tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù của Bản án số 57/2024/HSST ngày 27-12-2024 của Toà án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, buộc bị cáo phải chấp hành chung là tù chung thân.

Xử vật chứng, đề nghị:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 khối chất rắn màu trắng dạng hình hộp chữ nhật có cùng kích thước (15,5x10,5x2,2) cm bên ngoài được bọc bằng các lớp bao bì có các đặc điểm nêu trên được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu lần lượt là 329,18 gam và 349,10 gam, 02 khối chất rắn màu trắng trên được đựng trong 02 túi zipper chỉ đỏ có cùng kích thước (15x25) cm và ký hiệu số 1, 2. Hai túi zipper đựng mẫu hoàn trả trên và túi nilon màu đen, các lớp bao bì đựng mẫu gửi giám định vào một hộp giấy dựng mẫu gửi giám định, đã được niêm phong theo quy định của pháp luật;

- 01 túi xách hình chữ nhật có kích thước (26 x 21 x 5,5) cm, 01 sim thuê bao điện thoại số: 0348.103.xxx.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Vivo màu xanh, kiểu máy: V2332, số seri: 10HE4DFCY30005K và số tiền 1.000.000 đồng.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.005.000 đồng để đảm bảo công tác thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Ngoài ra, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn (bị cáo thuộc diện hộ nghèo). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phàng A B 18 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số 57/2024/HSST ngày 27-12-2024 của Toà án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa và không bổ sung ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngày 01/10/2024, Phàng A B đã thực hiện hành vi vận chuyển 02 bánh Heroin có tổng khối lượng là 686,12 gam từ đối tượng tên Tĩnh (chưa rõ nhân thân lai lịch) tại tỉnh Thanh Hoá đến giao cho đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) tại tỉnh Đắk Nông với số tiền công là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Hành vi của bị cáo Phàng A B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Phàng A B về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 của BLHS là đúng người, đúng tội.

Điều 250: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

“1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

b) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên; ...”.

[3]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lí độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Hiện nay loại tội phạm về ma tuý đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển số lượng lớn chất ma túy. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vĩnh viễn mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Ngày ngày 27-12-2024, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 57/2024/HSST. Đến ngày xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” bản án số 57 đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, HĐXX cần áp dụng Điều 56 của BLHS để tổng hợp hình phạt của 02 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành chung.

[7]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp nên HĐXX chấp nhận nhận.

Xét quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý tại phiên toà về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng đề nghị mức hình phạt là không phù hợp nên HĐXX không chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Xử lý vật chứng:

Đối với 02 khối chất rắn màu trắng dạng hình hộp chữ nhật có cùng kích thước (15,5x10,5x2,2) cm bên ngoài được bọc bằng các lớp bao bì có các đặc điểm nêu trên được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu lần lượt là 329,18 gam và 349,10 gam, 02 khối chất rắn màu trắng trên được đựng trong 02 túi zipper chỉ đỏ có cùng kích thước (15x25) cm và ký hiệu số 1, 2. Hai túi zipper đựng mẫu hoàn trả trên và túi nilon màu đen, các lớp bao bì đựng mẫu gửi giám định vào một hộp giấy dựng mẫu gửi giám định, đã được niêm phong là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 túi xách hình chữ nhật có kích thước (26 x 21 x 5,5) cm, 01 phôi sim thuê bao điện thoại số: 0348.103.xxx là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Vivo màu xanh, kiểu máy: V2332, số seri: 10HE4DFCY30005K và số tiền 1.000.000 đồng phương tiện, công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 1.005.000 đồng hợp pháp của bị cáo cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

(Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).

[7]. Về án phí: Bị cáo Phàng A thuộc đối tượng hộ nghèo nên miễn án phí HSST cho bị cáo.

[8]. Đối với hành vi của đối tượng tên T và T1 liên quan đến hành vi phạm tội của Phàng A B, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra theo quy định nhưng vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ tiếp tục kiểm tra, xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với bà Nguyễn Thị X là chủ sở hữu địa điểm bị cáo phạm tội, xác định bà X không có vai trò đồng phạm nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phàng A B phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phàng A tù chung thân.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 57/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày (03-10-2024).

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 khối chất rắn màu trắng dạng hình hộp chữ nhật là H1 có cùng kích thước (15,5x10,5x2,2) cm bên ngoài được bọc bằng các lớp bao bì có các đặc điểm nêu trên được niêm phong trong hộp giấy hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu lần lượt là 329,18 gam và 349,10 gam, 02 khối chất rắn màu trắng trên được đựng trong 02 túi zipper chỉ đỏ có cùng kích thước (15x25) cm và ký hiệu số 1, 2. Hai túi zipper đựng mẫu hoàn trả trên và túi nilon màu đen, các lớp bao bì đựng mẫu gửi giám định vào một hộp giấy dựng mẫu gửi giám định, đã được niêm phong; 01 túi xách hình chữ nhật có kích thước (26 x 21 x 5,5) cm, 01 phôi sim điện thoại số: 0348.103.xxx.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Vivo màu xanh, kiểu máy: V2332, số seri: 10HE4DFCY30005K và số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.005.000 (một triệu không trăm lẻ năm nghìn) đồng để đảm bảo công tác thi hành án.

(Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí HSST cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về vận chuyển trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phàng A B vận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger