Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 12-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Thơi và ông Nguyễn Thanh Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, số F Đ, phường P, thị xã H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Lê Văn D, tên gọi khác: X, sinh ngày 09/7/1994 tại thành phố H; nơi cư trú: Số nhà A L, phường T, quận T, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B (chết) và bà Đinh Thị Liên P; vợ, con: Chưa có.

Nhân thân:

  • Ngày 25/9/2013, bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, áp dụng biện pháp cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thời hạn 12 tháng (Quyết định số: 164/QĐ-UB). Đã chấp hành xong vào ngày 25/9/2014.
  • Ngày 22/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 114/2014/HSST). Đã chấp hành xong bản án.
  • Ngày 27/01/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số: 27/2016/HSST). Đã chấp hành xong bản án.
  • Ngày 08/01/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 12 tháng (Quyết định số: 01/QĐ-TA).
  • Ngày 29/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế tuyên phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 229/2020/HS-ST). Đã chấp hành xong bản án.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Nguyễn Đình D1; tên gọi khác: N; sinh ngày 21/5/1996 tại thành phố H; nơi thường trú: Tổ A, phường P, thị xã H, thành phố H; nơi ở hiện tại: Tổ G, phường T, thị xã H, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L (chết) và bà Bạch Thị S; vợ: Nguyễn Thị Ngọc H, con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020.

Nhân thân:

  • Ngày 19/01/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng (Quyết định số: 233/QĐ-CT.UBND). Đã chấp hành xong vào ngày 20/01/2011.
  • Ngày 08/01/2013, bị Công an phường P, thị xã H, xử phạt số tiền 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 08/QĐ-XPHC).
  • Ngày 29/4/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 15/2014/HSST). Đã chấp hành xong bản án.
  • Ngày 31/8/2016, được Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy miễn trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 43/2016/HSST).
  • Ngày 28/10/2016, bị Công an thị xã H, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 00488/QĐ-XPHC). Chưa chấp hành nộp phạt.

Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự (Quyết định số: 00488/QĐ-XPHC).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 cho đến nay, có mặt.

3. Lê Quang T; tên gọi khác: Thường; sinh ngày 10/4/1990 tại thành phố H; nơi cư trú: Tổ E, phường P, thị xã H, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang Á và bà Hồ Thị H1; vợ, con: Chưa có.

Nhân thân: - Ngày 24/8/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 55/2021/HS-ST). Đã chấp hành xong bản án.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Diệu H2, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn V, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T đang ngồi chơi tại nhà của D1, ở Tổ G, phường T, thị xã H, thì D1 rủ T cùng nhau mua ma túy về sử dụng thì được T đồng ý. Do biết được Lê Văn D có bán ma tuý nên D1 đã sử dụng tài khoản Zalo của mình là “Duy Nguyễn” liên hệ với D qua Z “Lê D” để đặt mua 500.000 đồng ma túy loại “Đá” thì D đồng ý bán. D1 thỏa thuận với D là tiền mua ma túy sẽ được chuyển 300.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của D, còn 200.000 đồng D1 sẽ bỏ vào bao thuốc lá ném vào sân nhà D sau khi lấy được ma túy, D báo với D1 là ma túy sẽ được D để trên trụ cổng nhà D để D1 đến lấy. Sau khi thỏa thuận xong việc mua bán ma túy, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 75H9 - 2090 (xe của chị Lê Thị Diệu H2, chị gái của T) chở D1 lên nhà D ở địa chỉ: 1 L, phường T, thành phố H (nay là quận T, thành phố H) để lấy ma túy. Sau khi lấy được ma túy, D1 bỏ vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô chở T về nhà ở phường T để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi Nguyễn Đình D1 đang điều khiển xe mô tô chở Lê Quang T đến đoạn đường bê tông, thuộc Tổ G, phường T, thị xã H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang. Đến ngày 07/10/2024 Cơ quan điều tra tiếp tục ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn D.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của các bị cáo, không thu giữ được gì.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của các bị cáo Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T cho kết quả: dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, MDMA; đối tượng Lê Văn D cho kết quả: dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, H3.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; được niêm phong kín;
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 75H9 - 2090.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A5S, có nắp lưng màu đen, gắn sim điện thoại số: 0349.122.xxx (thu giữ của Nguyễn Đình D1);
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI1: 355079081744075, số IMEI2: 355080081744073, gắn sim điện thoại số: 0326.673.xxx (thu giữ của Lê Quang T);
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, có số IMEI1: 353974101392099, số IMEI2: 353974101380060, gắn sim điện thoại số: 0899.239.xxx; 01 ví da màu đen, có dòng chữ Nike; 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên LE VAN DUNG; tiền Ngân hàng N2, số tiền 1.100.000 đồng (thu giữ của Lê Văn D);

Tại Bản kết luận giám định số: 631/KL-KTHS ngày 04/9/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định, có khối lượng là: 0,3055g (không phẩy ba không năm năm gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
  • H4 lại đối tượng giám định gồm: 0,2055g (không phẩy hai không năm năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; cùng các vật dụng dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lê Văn D: Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo, do không xác định được thời gian và địa điểm cụ thể nên không đủ cơ sở để xử lý.

Đối với chị Lê Thị Diệu H2, không biết việc bị cáo Lê Quang T sử dụng xe mô tô của mình vào mục đích phạm tội nên không xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HTh ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:
    • 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A5S, có nắp lưng màu đen, gắn sim điện thoại số: 0349.122.xxx (thu giữ của Nguyễn Đình D1);
    • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, có số IMEI1: 353974101392099, số IMEI2: 353974101380060, gắn sim điện thoại số: 0899.239.xxx;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng của bị cáo Lê Văn D do mua bán trái phép chất ma túy mà có.

- Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội:

  • Trả lại cho bị cáo Lê Quang T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI1: 355079081744075, số IMEI2: 355080081744073, gắn sim điện thoại số: 0326.673.xxx.
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D: 01 ví da màu đen, có dòng chữ Nike; 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên LE VAN DUNG; tiền Ngân hàng N2, số tiền 800.000 đồng;

- Trả lại cho chị Lê Thị Diệu H2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát: 75H9-2090 do chị H2 không biết việc T sử dụng xe mô tô của mình vào mục đích phạm tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần ma túy để sử dụng cùng với Lê Quang T nên khoảng 14 giờ ngày 03/10/2024, Nguyễn Đình D1 đã liên hệ trực tiếp với Lê Văn D để mua 500.000 đồng ma túy loại Methamphetamine. Sau đó, T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 75H9 - 0290 chở D1 lên nhà của D, ở địa chỉ: 1 L, phường T, quận T, thành phố H để nhận ma túy. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi D1 và T mang theo ma túy vừa mua được từ D về đến đoạn đường bê tông, thuộc Tổ G, phường T, thị xã H, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang. Trọng lượng chất ma túy mà các bị cáo mua bán, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng trái phép trong vụ án là 0,3055g (không phẩy ba không năm năm gam) Methamphetamine.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Văn D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T theo bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HTh ngày 21/01/2025 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Đình D1, Lê Quang T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy; các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm phát sinh nhiều tệ nạn khác, việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là bị nghiêm cấm, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo D là người bán ma tuý cho bị cáo D1 và T, còn bị cáo Nguyễn Đình D1 là người rủ rê, khởi xướng và Lê Quang T là người giúp sức trong việc tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng về tính chất mức độ hành vi phạm tội của mình.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, riêng đối với bị cáo Nguyễn Đình D1 có thêm 01 tiền sự. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe đối với các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định gồm:

  • 01 gói bên trong có 0,2055g mẫu tinh thể rắn màu trắng; cùng các vật dụng dùng để bao gói, hoàn lại sau khi giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của giám định viên Trần N1, 02 chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D2 và 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS-Công an tỉnh T và ghi dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T, bắt ngày 3/10/2024".

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:

  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, có nắp lưng màu đen, có gắn sim số thuê bao 0349122706, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, đã được niêm phong trong bì thư, dán keo trong có chữ ký họ tên Nguyễn Bình D2, Nguyễn Đình D1 và 2 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – C.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 màu trắng, có số IMEI: 353974101392099, số IMEI2: 353974101380060, bên trong có gắn sim số 0899239596; Tình trạng: đã qua sử dụng. 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Thanh A; 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Văn Hữu D3; 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Văn D và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H.

- Buộc bị cáo Lê Văn D phải nộp lại vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính do mua bán trái phép chất ma túy mà có (trong số tiền 1.100.000 đồng tiền ngân hàng N2 được niêm phong trong 1 bì thư màu trắng, trên bì thư có chữ ký họ tên: Nguyễn Thanh A, Lê Văn Hữu D3, Lê Văn D, 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - CATX Hương T1, ghi dòng chữ “Số tiền 1.100.000đ của Lê Văn D").

- Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội:

  • Trả lại cho bị cáo Lê Quang T 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime, số imei: 355079081744075 bên trong có gắn sim số 0326673852, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, được niêm phong trong bì thư, dán keo trong có chữ ký họ tên Nguyễn Bình D2, Lê Quang T và 2 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - C.
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D: 01 ví da màu đen có dòng chữ Nike, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ngân hàng V1 mang tên LE VAN DUNG, số thẻ 9704368606548270170;
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D số tiền 800.000 đồng (trong số tiền 1.100.000 đồng tiền ngân hàng N2 được niêm phong trong 1 bì thư màu trắng, trên bì thư có chữ ký họ tên: Nguyễn Thanh A, Lê Văn Hữu D3, Lê Văn D, 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - CATX Hương T1, ghi dòng chữ “Số tiền 1.100.000₫ của Lê Văn D");
  • Trả lại cho chị Lê Thị Diệu H2 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, mang BKS: 75H9-2090, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 07/10/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình D1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/10/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định gồm:

  • 01 gói bên trong có 0,2055g mẫu tinh thể rắn màu trắng; cùng các vật dụng dùng để bao gói, hoàn lại sau khi giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của giám định viên Trần N1, 02 chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D2 và 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS-Công an tỉnh T và ghi dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T, bắt ngày 3/10/2024".

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:

  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, có nắp lưng màu đen, có gắn sim số thuê bao 0349122706, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, đã được niêm phong trong bì thư, dán keo trong có chữ ký họ tên Nguyễn Bình D2, Nguyễn Đình D1 và 2 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – C.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 màu trắng, có số IMEI: 353974101392099, số IMEI2: 353974101380060, bên trong có gắn sim số 0899239596; Tình trạng: đã qua sử dụng. 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Thanh A; 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Văn Hữu D3; 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Văn D và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng (trong số tiền 1.100.000 đồng tiền ngân hàng N2 được niêm phong trong 1 bì thư màu trắng, trên bì thư có chữ ký họ tên: Nguyễn Thanh A, Lê Văn Hữu D3, Lê Văn D, 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - CATX Hương T1, ghi dòng chữ “Số tiền 1.100.000đ của Lê Văn D”) là tiền thu lợi bất chính do bị cáo Lê Văn D mua bán trái phép chất ma túy mà có.

- Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội:

  • Trả lại cho bị cáo Lê Quang T 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime, số imei: 355079081744075 bên trong có gắn sim số 0326673852, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, được niêm phong trong bì thư, dán keo trong có chữ ký họ tên Nguyễn Bình D2, Lê Quang T và 2 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - C.
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D: 01 ví da màu đen có dòng chữ Nike, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ngân hàng V1 mang tên LE VAN DUNG, số thẻ 9704368606548270170;
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D số tiền 800.000 đồng (trong số tiền 1.100.000 đồng tiền ngân hàng N2 được niêm phong trong 1 bì thư màu trắng, trên bì thư có chữ ký họ tên: Nguyễn Thanh A, Lê Văn Hữu D3, Lê Văn D, 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - CATX Hương T1, ghi dòng chữ “Số tiền 1.100.000₫ của Lê Văn D");
  • Trả lại cho chị Lê Thị Diệu H2 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, mang BKS: 75H9-2090, đã qua sử dụng.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Đình D1 và Lê Quang T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • TAND TP Huế;
  • VKSND TP Huế;
  • Công an TP Huế;
  • VKSND thị xã Hương Thủy;
  • Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn D và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger