Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 12-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Đình Dũng.
  • - Bà Nguyễn Thị Xuân Thương.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Phạm Văn T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1992 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn S, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viết T1 và bà Tiêu Thị Tuyết T2 (chết); vợ: Huỳnh Thị Lệ T3, có 02 người nhỏ nhất sinh 2022, lớn nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày 30/8/2022. Bị cáo là Đảng viên Đ nhưng đã bị Khai trừ theo Quyết định số 58-QĐ/UBKTTU của Ủy ban kiểm tra T5 ngày 12/12/2022. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị Diệu H sinh năm 1977, địa chỉ: Hẻm S đường C, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đặng Văn T4 sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  2. Ông Huỳnh Nguyễn Nguyên S năm 1978, địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2018, bị cáo Phạm Văn T đến Cửa hàng cho thuê xe máy Minh P tại địa chỉ số C đường H, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, thuê của bà Lê Thị Diệu H một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76B1-10372 hiệu H2 để sử dụng, thời gian thuê từ 9 giờ 50 phút ngày 10/8/2018 đến 8 giờ 00 phút ngày 20/8/2018, số tiền thuê là 1.500.000 đồng, bị cáo đã đưa đủ số tiền thuê cho bà H. Bà H lập hợp đồng thuê xe, giao xe cho bị cáo sử dụng, bị cáo giao cho bà H 01 bản gốc Chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn T và 01 bản Photocopy Sổ hộ khẩu. Đến ngày 20/8/2018, bị cáo không trả xe cho bà H mà tiếp tục sử dụng, sau đó vì cần tiền để trả nợ cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định bán xe của bà H. Khoảng cuối tháng 8/2018 (không xác định được ngày cụ thể), bị cáo điều khiển xe đến tiệm sửa xe “Thái Honda” của ông Đặng Văn T4, bị cáo và ông T4 thỏa thuận bị cáo bán chiếc xe đã thuê cho ông T4 với giá 4.000.000 đồng, ông T4 mua xe và sử dụng làm phương tiện đi lại. Khoảng tháng 9/2018, ông T4 đến nhà ông Huỳnh Nguyễn N (là thầy dạy nghề sửa xe của ông T4) chơi. Tại đây, ông T4 thấy biển số 59L2-25331 của ông N vứt bỏ tại bãi sắt vụn, ông T4 xin ông N biển số này với mục đích gắn vào xe mua từ bị cáo T, ông N đồng ý. Sau đó, ông T4 tiến hành đục phá số khung, số máy của xe mô tô 76B1-10372 và gắn biển số 59L2-25331 để thay thế biển 76B1-10372 nhằm mục đích đối phó với Lực lượng Cảnh sát giao thông khi tham gia lưu thông, biển số 76B1-10372 ông T4 bán cho một người thu mua phế liệu. Đối với bị cáo T thì sau khi hết hạn hợp đồng thuê xe, bà H nhiều lần liên lạc qua số điện thoại bị cáo cung cấp để nhắc bị cáo trả xe và trả tiền thuê, bị cáo hứa sẽ trả xe và trả tiền thuê xe đầy đủ cho bà H sau đó không nghe máy và thay đổi số điện thoại. Đến ngày 28/8/2022, bà H làm đơn trình báo hành vi của T đến Công an tỉnh Q.

Tại Kết luận giám định số 890/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Xe mô tô yêu cầu giám định có nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, sơn màu: Trắng, mang biển kiểm soát: 59L2-25331. Tại vị trí đóng chìm hàng chữ số máy bị tẩy xóa, mài khuyết không nhìn thấy được hàng chữ số. Không hiện lại được hàng chữ số máy nguyên thủy của xe. Tại vị trí đóng chìm hàng chữ số khung bị tẩy xóa, mài khuyết không nhìn thấy được hàng chữ số. Không hiện lại được hàng chữ số khung nguyên thủy của xe. Không có tài liệu kèm theo. H1 lại xe mô tô nguyên vẹn như lúc nhận giám định.

Tại Kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 59L2-25331 không xác định được số khung, số máy, hiệu xe Vision, màu trắng, nhãn hiệu Honda, trị giá 5.000.000 đồng (tài sản đã qua sử dụng).

Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 17/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo tự nguyện thanh toán cho bị hại tiền thuê xe 18.000.000 đồng và tiền sửa xe 10.000.000 đồng, tổng cộng là 28.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: 01 biển số xe mô tô 59L2-25331 của ông Huỳnh Nguyễn N đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy (BL 190).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra đã làm việc, có lời khai trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã nhiều lần triệu tập những người này nhưng họ vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điều 292 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Ngày 10/8/2018, bị cáo Phạm Văn T thỏa thuận và có lập hợp đồng thuê của bà Lê Thị Diệu H 01 xe mô tô biển kiểm soát 76B1-10372 trong thời gian từ 09 giờ 50 phút ngày 10/8/2018 đến 08 giờ ngày 20/8/2018 với giá thuê xe là 1.500.000 đồng. Hết thời gian thỏa thuận trong hợp đồng thuê xe, bị cáo không trả xe cho bà H mà tự ý bán xe cho ông Đặng Văn T4 lấy số tiền 4.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.

[4]. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào năm 2018 đến ngày 28/8/2022 bị hại làm đơn trình báo, tố giác hành vi phạm tội của bị cáo với Phòng K Công an tỉnh Q. Ngày 14/3/2022, bị cáo T thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngày 30/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày 30/8/2022. Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới (tức là ngày 14/3/2022).

[5]. Đối với hành vi của bị cáo thuê tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố các bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả xảy ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã từng tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự (BL 103) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8]. Tính chất, mức độ của hành vi: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[9]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Diệu H đã nhận lại xe, yêu cầu bị cáo thanh toán cho bị hại tiền thuê xe trong thời gian chậm trả lại xe là 18.000.000 đồng và tiền sửa xe 10.000.000 đồng, tổng cộng là 28.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại. Ông Đặng Văn T4 đã nhận lại số tiền 4.000.000 đồng bị cáo trả lại cho ông T4, không yêu cầu gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: 01 biển số xe 59L2-25331 do ông Huỳnh Nguyễn N đứng tên chủ xe, ông N đề nghị tịch thu tiêu hủy (BL 190), căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

[10]. Đối với hành vi ông Đặng Văn T4 đồng ý mua xe từ bị cáo không có giấy tờ, sau đó ông T4 đục phá số khung và số máy của xe rồi gắn biển số xe 59L2-25531 vào xe, còn biển số củ bán phế liệu, ông T4 sử dụng xe cho đến khi bị Công an mời làm việc. Hội đồng xét xử đã quyết định Trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi số 02/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của ông T4 có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định Bộ luật hình sự không? Tại Công văn 99/VKS-HS ngày 23/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi xác định ông Đặng Văn T4 không đồng phạm với bị cáo T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, không điều tra, làm rõ gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử, chỉ xét xử đối với bị cáo Phạm Văn T về hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

[11]. Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 472, 482, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Phạm Văn T phải trả cho bà Lê Thị Diệu H số tiền thuê xe trong thời gian chậm trả là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) và bồi thường chi phí sửa xe với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), tổng cộng là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).

  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
  6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số xe 59L2-25331 có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND TP Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Chi cục THADS TP Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T "Lạm dụng tín nhiệm CĐTS"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger