|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 17/2025/HS-PT Ngày 12/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Ánh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Tuấn.
Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Lan Hương, cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Hảo, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLPT - HS ngày 11/02/2025 đối với bị cáo Trần Trung T, do có kháng cáo của bị cáo Trần Trung T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 167/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Bị cáo: Trần Trung T; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 04 tháng 02 năm 1992 tại: V, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Trần Sĩ K và con bà: Vũ Thị Hồng T1.
Tiền án: ngày 06 tháng 01 năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 22 tháng 11 năm 2021 chấp hành xong bản án.
Nhân thân: Ngày 15 tháng 12 năm 2008 đến ngày 01 tháng 7 năm 2010 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường G - Ninh Bình.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10 tháng 8 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Trung T và anh Bùi Thanh T2 là bạn bè, cả hai đều sử dụng ma túy đá, T2 biết T bán ma túy, nên T2 đã nhiều lần mua ma túy của T, cụ thể:
Lần thứ nhất: khoảng 20 giờ ngày 09 tháng 8 năm 2024, T2 nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho T, hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, T đồng ý, T2 sử dụng số tài khoản 107881244609 mở tại Ngân hàng V1 chuyển khoản thanh toán trước cho T vào số tài khoản 00934244566 của T mở tại ngân hàng Q. Rồi cả hai hẹn nhau đến nhà T tại số nhà C, tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giao dịch. Sau đó, T2 nhờ bạn là anh Tạ Tuấn V (trú tại: tổ B, khu B, phường C, thành phố C), nói chở T2 đi có việc. Anh V đến thì T2 cầm lái rồi cả hai đi đến nhà T để lấy ma túy, anh V không biết việc T2 mua ma túy của T. Giao dịch xong, anh V chở T2 về gần nhà rồi đi về, T2 một mình sử dụng hết số ma túy trên.
Lần thứ hai: khoảng 09 giờ ngày 10 tháng 8 năm 2024, T2 nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho T, hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, T đồng ý, rồi cả hai hẹn mang đến nhà T2 thuộc tổ A, khu B, phường C, thành phố C để giao dịch, T2 sẽ trả tiền mặt cho T. Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, T gặp Đ (là bạn), nhờ Đ chở đến nhà T2, T không nói cho Đ biết việc T đi bán ma túy cho T2. Đến đầu ngõ nhà T2, T xuống xe, còn Đ đi về. Khi đang đi bộ đến nhà T2, thì T bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon kích thước (4,5x6) cm bên trong có 02 vỏ túi nilon kích thước (1,5x2) cm và 01 túi nilon kích thước (2,5x3) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng bạc đã cũ lắp sim số 0934244566.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T thu giữ: 02 túi nilon kích thước (7,8x11,8) cm, bên trong mỗi túi có nhiều túi nilon kích thước (1,5x2) cm; 01 bật lửa gas, đầu bơm gas gắn 01 ống nhựa màu trắng, đầu ống gắn mảnh giấy bạc thành hình ống.
Tại Kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 0,373 gam.
Tại Kết luận giám định số 1270/KL-KTHS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Trung T, Bùi Thanh T2 gửi giám định.
Quá trình điều tra, Trần Trung T không thừa nhận bán ma túy cho T2 mà khai nhận:
Đối với vụ thứ nhất: tối ngày 09 tháng 8 năm 2024, Tuyền nhắn tin và chuyển khoản cho T để nhờ mua hộ 500.000 đồng ma túy đá và hẹn T2 đến nhà T để nhận ma túy. Nhưng T không đi mua ma túy cho T2, mà nạp chơi điện tử hết. Khi T2 và V đến gặp T, T không có ma túy đưa cho T2, thì T2 và anh V đi về.
Anh Bùi Thanh T2 và Tạ Tuấn V có lời khai phù hợp nội dung vụ án: V khai thêm: tối ngày 09 tháng 8 năm 2024, anh V cùng anh T2 đến nhà T. Khi đến trước cửa, anh V và T2 đứng đối diện với T. Anh V nhìn thấy T đưa 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng cho T2, T2 còn giơ lên cho anh V xem, nhưng anh V không biết đó là ma túy đá. Anh V và anh T2 còn nhận dạng được túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng mà T đưa cho anh T2 ngày 09 tháng 8 năm 2024 có đặc điểm giống túi nilon chứa ma túy đá đã thu giữ của T ngày 10 tháng 8 năm 2024.
Đối với vụ thứ 2: ngày 10 tháng 8 năm 2024, do có sẵn ma túy nên khi T2 nhờ mua hộ 500.000 đồng ma túy đá, T đã cầm số ma túy này cùng 02 túi nilon đến nhà T2, mục đích để chia một lượng tương ứng với 500.000 đồng đưa cho T2 và dự định sẽ cùng T2 sử dụng hết số ma túy mang đi và T vẫn lấy 500.000 đồng của T2 để sau này mua ma túy cho T. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do T mua của một người đàn ông tên H, không rõ lai lịch, với giá 2.000.000 đồng vào khoảng 09 giờ ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại khu vực tổ A, khu A, phường C, thành phố C. T đã sử dụng hết gần một nửa, số ma túy còn lại T mang đến bán cho T2 thì bị bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 3139/CT - VKSCP ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Trần Trung T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận thực hiện hành vi bán ma túy cho T2 như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 167/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trung T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/8/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên truy thu của bị cáo số tiền 500.000đ là tiền do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước, về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/01/2025 bị cáo Trần Trung T kháng cáo, đề nghị xét xử phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Trung T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo trình bày: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử bị cáo 08 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; mức án trên là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo, bởi các lý do sau:
Do không hiểu biết pháp luật, nên tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không nhận thức được hành vi của mình; bị cáo hiện là người có bệnh đang điều trị chấn thương sọ não (mất ½ hộp sọ, liệt ½ cơ thể, lúc nhớ lúc quên).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm giải quyết vụ án: kháng cáo của bị cáo Trần Trung T trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó đủ cơ sở xác định việc bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, vì vậy đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo. Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Trung T 07 (Bẩy) năm 09 (C) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Trần Trung T được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm nên hợp lệ, vụ án được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Về tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nhưng hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh qua các lời khai của người làm chứng anh Bùi Thanh T2; anh Tạ Tuấn V; người chứng kiến phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với các bản Kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 0,373 gam và Kết luận giám định số 1270/KL-KTHS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Trung T, Bùi Thanh T2 gửi giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q.
Mặt khác, sau khi xét xử sơ thầm, ngày 06/01/2025 bị cáo Trần Trung T kháng cáo, đề nghị xét xử phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt. Tại đơn kháng cáo bị cáo T ghi: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử bị cáo 08 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; mức án trên là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Thanh T2 như nội dung Bản án sơ thẩm đã ghi.
Đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Trần văn T3 cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bản án sơ thẩm số 167/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tuyên xử bị cáo Trần Văn T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Trung T không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.
Bị cáo Trần Trung T bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.
Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích: ngày 06 tháng 01 năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 22 tháng 11 năm 2021 chấp hành xong bản án. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, từ ngày 15 tháng 12 năm 2008 đến ngày 01 tháng 7 năm 2010 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường G - Ninh Bình. Mặc dù, bị cáo đã được giáo dục, tuyên truyền về quy định của pháp luật nói chung và tác hại của ma túy nói riêng, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm để phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này thuộc tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng do bị cáo bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự với 02 tỉnh tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm”; bị cáo có nhân thân xấu, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
- [4]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung T.
- [5]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo Trần Trung T không được chấp nhận, vì vậy bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung T; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 167/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Tuyên bố: bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Trần Trung T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/8/2024
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số: 1265/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) sim điện thoại không xác định số sim trên sim có 4 dãy số: 8401; 2310; 2421; 0663 thu giữ của bị cáo T và 02 túi nilon kích thước (7,8x11,8) cm, bên trong mỗi túi có nhiều túi nilon kích thước (1,5x2) cm; 01 bật lửa gas, đầu bơm gas gắn 01 ống nhựa màu trắng, đầu ống gắn mảnh giấy bạc thành hình ống.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sam sung màu trắng bạc đã qua sử dụng, đã cũ, không kiểm tra được chất lượng bên trong gồm thu của bị cáo.
Truy thu của Trần Trung T số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao vật chứng số 43/BB-THA ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP Cẩm Phả).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Trung T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Ánh |
Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Trung Thành phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
