Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 12-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Trang;

Ông Vũ Xuân Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Quốc Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lương Quý B. Sinh ngày: 20/5/1982, nơi sinh, nơi cư trú: Khu B, phố B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc T và con bà Nguyễn Thị Thanh T1; bị cáo có vợ là Bùi Thị L, sinh năm 1983 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 08/5/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 7 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 30/8/2012.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 27/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

2. Phạm Văn Đ. Sinh ngày: 19/9/1982, nơi sinh, nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và con bà Vũ Thị L1; bị cáo có vợ là Trần Thị V, sinh năm 1984; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Ông Trần Đức H1, “vắng mặt”.
  • + Ông Lương Ngọc T, “vắng mặt”.
  • + Chị Trần Thị B1, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/12/2024, Lương Quý B đến khu vực xã G, nay là thị trấn G, huyện G để tìm mua Heroine thì gặp một người phụ nữ lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có Heroine bán nên B hỏi mua 1.600.000 đồng. Người phụ nữ đồng ý bán cho B 01 gói giấy bạc bên trong chứa Heroine. Bốn về nhà chia nhỏ gói Heroine trên thành 20 phần rồi gói trong 20 gói giấy ô ly màu trắng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó, B đã sử dụng hết 14 gói, còn lại 06 gói, B giấu tại nhà ở của mình 03 gói và cất giấu tại nhà ông Lương Ngọc T (bố đẻ của B) ở khu A, phố B, xã X, huyện X 03 gói. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, B đang ở nhà ông T thì nghe thấy có người gọi: “Bốn ơi”, B trả lời: “ai đấy”, người kia trả lời: “tôi Đ đây”. Bốn kéo cửa xếp sắt ra khoảng 20cm thì thấy Phạm Văn Đ là bạn nghiện chất ma túy. Đ hỏi B “còn không bán cho hai trăm”. Đ hiểu B muốn mua 200.000 đồng Heroine. Bốn gật đầu đồng ý, Đ đưa cho B 190.000 đồng, thấy Đ đưa thiếu 10.000 đồng nhưng do là bạn học cũ và cùng nghiện ma túy nên B vẫn đồng ý bán. B nhận tiền và đi đến chậu cây Si trước hiên nhà lấy ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 gói Heroine được gói bằng giấy ô ly màu trắng. Bốn lấy 02 gói Heroine bên trong túi nilon bán cho Đ. Còn lại 01 gói, khoảng 12 giờ cùng ngày, B lấy ra sử dụng hết. Sau khi mua Heroine của B, Đ cầm trên tay trái và đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày 16/12/2024, Đ đến khu vực Tổ C, thị trấn X, huyện X thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện X phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 gói giấy nhỏ (niêm phong ký hiệu M) và bàn giao hồ sơ, tài liệu cùng đối tượng Phạm Văn Đ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X để giải quyết theo thẩm quyền.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Đ nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Quý B tại phố B, xã X, huyện X, phát hiện thu giữ tại mặt bàn phòng ngủ của B 03 gói giấy nhỏ đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu K). B khai nhận là H2, cất giấu để bán kiếm lời; 01 lưỡi dao lam (B khai nhận dùng để chia ma túy).

Khám xét khẩn cấp tại nhà bố đẻ của B là ông Lương Ngọc T ở khu A, phố B, xã X, huyện X, thu giữ tại giường trong phòng ngủ của B 01 mảnh giấy ô ly kích thước (20x16)cm, B khai dùng để gói ma túy.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Phạm Văn Đ ngày 16/12/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Phạm Văn Đ dương tính với M.

Tại bản kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong các gói giấy kẻ ô ly nhỏ màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu M: 0,118 gam; Bản kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu K gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu K: 0,106 gam;

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Lương Quý B và Phạm Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Cáo trạng số 13/CT-VKSXT, ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo Lương Quý B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Quý B.

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Quý B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

  • Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Quý B từ 3 năm 06 tháng đến 3 năm 09 tháng tù.

  • Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lương Quý B từ 5 -10 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

  • Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Đ.

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

  • Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù.

  • Về hình phạt bổ sung: Hoành cảnh kinh tế gia đình Đ khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 54/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (M= 0,086 gam); 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 112/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (K= 0,083 gam);

    • 01 lưỡi dao lam; 01 mảnh giấy ô ly kích thước (20x16)cm là những đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

    • Đối với số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) là số tiền do bị cáo Lương Quý B thu lời bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo B khai đã tiêu sài cá nhân hết, nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 16/12/2024, tại khu A, phố B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Lương Quý B có hành vi bán trái phép cho Phạm Văn Đ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,118 gam với số tiền 190.000 đồng. Phạm Văn Đ mua số Heroine của B với mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Lương Quý B còn cất giấu tại chỗ ở của mình 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,106 gam với mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Lương Quý B bán trái phép 0,224 gam Heroine cho bị cáo Đ đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi tàng trữ trái phép 0,118 gam Heroine của bị cáo Phạm Văn Đ đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo B nhận thức được việc bán ma tuý là tác hại là gieo rắc hành vi tiếp tay cho việc sử dụng ma tuý song vì mục đích kiếm lời mà bị cáo bất chấp. Bị cáo B có nhân thân xấu, trước đây vào năm 2008 bị cáo đã từng bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 7 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” song bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Đối với bị cáo Đ nhận thức tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân gây tác hại cho chính mình xong vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Đối với bị cáo Lương Quý B: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên HĐXX sẽ áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Đối với bị cáo Phạm Văn Đ hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn bị cáo là người nghiện ma tuý nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của các bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 lưỡi dao lam; 01 mảnh giấy ô ly kích thước (20x16)cm là những đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) là số tiền do bị cáo Lương Quý B thu lời bất chính từ hành vi phạm tội, bị cáo B khai đã tiêu sài cá nhân hết, nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo B, bị cáo B khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra Công an huyện X không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp;

[9] Đối với ông Lương Ngọc T (bố đẻ của bị cáo B): mặc dù bị cáo B cất giấu ma túy ở gốc cây Si trước hiên nhà ông T để bán kiếm lời, nhưng vì bị cáo B thường xuyên ăn ngủ, sinh hoạt ở nhà ông T, và ông T cũng không biết vệc bị cáo B cất giấu ma túy tại nhà ông để bán kiếm lời, nên không có căn cứ xử lý ông T là phù hợp.

[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên bố bị cáo Lương Quý B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

    • - Xử phạt bị cáo Lương Quý B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.

    • - Phạt bổ sung đối với bị cáo Lương Quý B 5.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước.

  2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    • - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma tuý).

    • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

  3. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 54/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (M= 0,086 gam); 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 112/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (K= 0,083 gam); 01 lưỡi dao lam; 01 mảnh giấy ô ly kích thước (20x16)cm.

    Truy thu số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) của bị cáo Lương Quý B để sung ngân sách nhà nước.

    (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 26/CCTHADS ngày 21/02/2025 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

  4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    Buộc bị cáo Lương Quý B, bị cáo Phạm Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Lương Quý B, Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - UBND xã Xc
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger