TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HSST
Ngày: 12/3/2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Mã Siêu.
- Bà Tô Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐHPT-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao Bảo H, sinh ngày 23/9/2005. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T và bà Cao Thị M, bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/12/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Duy K, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, Thái Bình.
- Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi xem cách chế tạo pháo nổ trên ứng dụng Tiktok, khoảng tháng 10/2024, Nguyễn Cao Bảo H nảy sinh ý định chế tạo pháo nổ để bán kiếm lời. H đặt mua 02 kilôgam KCLO3 với giá 200.000 đồng, 500 gam lưu huỳnh với giá 35.000 đồng trên ứng dụng tiktok của một tài khoản H không nhớ tên. Trong thời gian chờ KCLO3 và lưu huỳnh, H đốt củi để lấy than củi rồi nghiền vụn thành bột. Đồng thời H chuẩn bị các vật dụng, dụng cụ khác để phục vụ chế tạo pháo gồm cuộn nilon màng bọc thực phẩm, thìa nhỏ bằng kim loại, vợt lọc kim loại, hộp nhựa, băng dính, cân điện tử, ống nhựa, thanh kim loại hình trụ tròn, thanh kim loại hình hộp, nhíp, tấm gỗ gắn thanh kim loại, thanh kim loại hình trụ tròn một đầu gắn kim loại nhọn, đũa vót nhọn, giấy A4. Khoảng 3 đến 4 ngày sau, có một người đàn ông mà H không quen biết giao KCLO3 và lưu huỳnh đến nhà cho H, H thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho người này số tiền 235.000 đồng. Khi có đủ nguyên liệu, H tiến hành chế tạo pháo trong phòng ngủ của H ở trên tầng 2 của gia đình. H pha trộn hóa chất để tạo thành thuốc pháo nổ theo tỉ lệ được đong bằng thìa là 3 thìa KCLO3, 03 thìa bột than củi, 01 thìa lưu huỳnh. Khi pha trộn xong H đựng vào 02 hộp nhựa có nắp màu đỏ. Tiếp theo, H tạo dây dẫn nổ bằng cách đổ 01 thìa thuốc pháo nổ lên mặt lớp nilon loại màng bọc thực phẩm rồi cuộn nhỏ lại, rồi dùng tay vê miết nhỏ thành dây kéo giãn dài ra tạo thành dây dẫn nổ. H chế tạo một loại pháo to và một loại pháo nhỏ, do làm thủ công nên kích cỡ quả pháo không đồng đều. Đối với pháo loại to, H cuộn nguyên một tờ giấy A4 vào ống nhựa màu cam có chiều dài 48cm, đường kính 1cm làm nhiều vòng đến khi to bằng khoảng cổ tay thì H dừng lại. Đối với pháo loại nhỏ, H cắt dọc tờ giấy A4 làm đôi rồi cuộn vào ống nhựa màu cam có chiều dài 48cm, đường kính 1cm làm nhiều vòng đến khi to bằng cổ tay hoặc ngón chân cái thì dừng lại. Sau đó, H dùng băng dính quấn vòng quanh bên ngoài để cố định chặt vỏ pháo, rồi rút ống nhựa ra tạo thành khoảng trống ở giữa (là lõi pháo) để nhồi thuốc pháo. H dùng đũa đã vót nhọn để cậy các lớp giấy ở một đầu vỏ pháo tạo thành một lớp đáy kín rồi nhỏ dung dịch keo 502 gắn kín lại. Đầu còn lại, H cho thuốc pháo vào đến khi gần đầy hết lõi pháo thì dừng lại, sau đó dùng nhíp kẹp dây dẫn ấn sâu xuống phần thuốc pháo vừa đổ, H cũng thực hiện tương tự như trên để bịt kín là hoàn thành việc chế tạo một quả pháo nổ. Với công thức như trên, H đã chế tạo được 100 quả pháo nổ hình trụ tròn, quả pháo lớn nhất có chiều dài 21,5cm, đường kính 8cm; quả pháo nhỏ nhất có chiều dài 5,3cm, đường kính 1,5cm. Đến khoảng đầu tháng 11/2024, H tìm kiếm trên ứng dụng Facebook và đặt mua của một tài khoản mà H không nhớ tên 153 vỏ pháo hình trụ tròn được cuộn bằng giấy màu đỏ có in chữ “Vạn Sự Như Ý” với giá 200.000 đồng. Khoảng 3 ngày sau, có một người đàn ông mà H không quen biết giao hàng đến nhà cho H, H thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho người này số tiền 200.000 đồng. Cũng tương tự cách thức chế tạo trên, H dùng đũa đã vót nhọn để cậy các lớp giấy ở một đầu vỏ pháo tạo thành một lớp đáy kín rồi nhỏ dung dịch keo 502 gắn kín lại. Đầu còn lại, H cho thuốc
pháo vào đến khi gần đầy hết lõi pháo thì dừng lại, sau đó dùng nhíp kẹp dây dẫn ấn sâu xuống phần thuốc pháo vừa đổ, dùng đũa nhọn cậy các lớp giấy bịt kín đầu có dây dẫn và nhỏ dung dịch keo 502 gắn kín lại là hoàn thành việc chế tạo một quả pháo nổ. Với loại vỏ pháo này, H đã chế tạo được 86 quả pháo hình trụ tròn có màu đỏ có in chữ “Vạn Sự Như Ý” rồi kết nối các ngòi pháo lại thành 01 (một) tràng pháo nổ dài 113cm. Từ khi sản xuất được pháo nổ đến nay, H đã bán pháo nổ cho 2 người cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 12 năm 2024, H bán 20 quả pháo nổ hình trụ tròn có tổng khối lượng là 4,3 kg cho Phạm Duy K với giá 300.000 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 12 năm 2024, H bán 01 tràng pháo nổ dài 113cm có tổng khối lượng là 01 kg cho anh Nguyễn Văn K1 với giá là 300.000 đồng.
Số pháo còn lại gồm 80 quả pháo nổ hình trụ tròn có tổng khối lượng là 8,8 kg, H cất cùng dụng cụ chế tạo pháo trong phòng ngủ của H ở trên tầng 2 nhà H, nếu có người hỏi mua H sẽ bán. Khi cơ quan Công an triệu tập H lên làm việc thì H đã tự nguyện giao nộp 80 quả pháo nổ hình trụ tròn, vỏ pháo cùng toàn bộ dụng cụ chế tạo pháo.
Tại Bản Kết luận giám định số 1868/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: “Các mẫu vật gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 14,1 kg. Trong đó: 20 (Hai mươi) vật hình trụ tròn được cuộn bằng nhiều lớp giấy, có hai đầu được bịt kín, một đầu được gắn dây. Kích thước vật to nhất dài 12,5cm, đường kính 6cm, kích thước vật bé nhất dài 11,5cm, đường kính 4,5cm được niêm phong vào trong 01 (một) hộp bìa cát tông màu trắng tím có khối lượng là 4,3 kg; 80 (Tám mươi) vật hình trụ tròn được cuộn bằng nhiều lớp giấy, có hai đầu được bịt kín, một đầu được gắn dây. Kích thước vật to nhất dài 21,5 cm và đường kính 8 cm, kích thước vật nhỏ nhất dài 5,3 cm, đường kính 1,5 cm được niêm phong vào trong 01 (một) hộp bìa cát tông bên ngoài có in chữ "MODERN – HƯƠNG VỊ - LẦU THÁI TÔM" có kích thước (30,5 x 40,5 x 34,4)cm có khối lượng là 8,8kg; 86 (Tám mươi sáu) vật hình trụ tròn màu đỏ, trong đó vật lớn nhất có chiều dài 6cm, đường kính 2,5cm; vật bé nhất có chiều dài 5cm, đường kính 2cm, một đầu được gắn dây dẫn màu bạc được kết thành tràng dài 113 cm được niêm phong trong 01 (một) hộp bìa cát tông dán kín có kích thước (43 x 28 x 12)cm có khối lượng là 01 kg”.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKSTH ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Cao Bảo H về tội: “Sản Xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cao Bảo H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Bảo H từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Cao Bảo H.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cân điện tử bằng nhựa màu trắng đục đã qua sử dụng; 02 hộp nhựa có nắp màu đỏ, đường kính nắp là 9,5 cm, đường kính đáy hộp là 9,5 cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình hộp màu trắng có kích thước (65 x 3 x 1,5)cm; cuộn băng dính màu trắng, đã qua sử dụng; 02 chiếc thìa loại nhỏ bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 ống nhựa màu cam, có chiều dài 48 cm, đường kính 1 cm, đã qua sử dụng; 01 cuộn nilong có chiều dài 50 cm, đường kính 8 cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình trụ tròn màu trắng, chiều dài 26 cm, đường kính 0,7cm, đã qua sử dụng; 01 vợt lọc thanh kim loại, chiều dài 33,5 cm, đường kính 18cm, đã qua sử dụng; 01 nhíp bằng kim loại, một đầu nhọn dùng để kẹp, dài 12,5 cm, đã qua sử dụng; 01 tấm gỗ có kích thước (65 x 13,5 x 2)cm, trên tấm gỗ có gắn một thanh kim loại hình hộp màu trắng có kích thước (66 x 2 x 1)cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, chiều dài 11,5 cm, đường kính 1cm, một đầu bịt kín, một đầu gắn kim loại nhọn, đã qua sử dụng; 33 vật hình trụ tròn được cuốn bằng nhiều lớp giấy, có một đầu được bịt kín, một đầu hở, vật to nhất dài 12,5 cm và đường kính 06 cm, vật nhỏ nhất dài 8 cm và đường kính dài 3,6 cm. (vỏ pháo); 67 vật hình trụ tròn được cuốn bằng nhiều lớp giấy màu đỏ có in chữ “Vạn sự như ý”, có một đầu được bịt kín, một đầu hở, kích thước đều bằng nhau mỗi vật dài 5 cm và đường kính 1,9 cm (vỏ pháo); 02 hộp bìa cát tông bên ngoài được niêm phong kín bằng các dải niêm phong màu trắng và băng dính. Trên các dải niêm phong đều có 3 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K3, Công an tỉnh T, 3 chữ ký và 3 dòng chữ viết (Phạm Văn B, Nguyễn Văn C, Đinh Ngọc K2), bên trong có các vật hình trụ tròn, tổng khối lượng là 10,5 kg.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) của bị cáo có được do phạm tội mà có. Số tiền này bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001795 ngày 17/01/2025 được chuyển sang khoản phải thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 bị cáo Nguyễn Cao Bảo H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên bị cáo khai nhận hành vi sản xuất hàng cấm là pháo nổ mục đích để bán kiếm lời. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- - Các biên bản tạm giữ tài sản đồ vật, tài liệu do Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập cùng ngày 16/12/2024 tại trụ sở Công an huyện T, tỉnh Thái Bình và tại nhà ở của Phạm Duy K ở thôn T, xã Đ;
- - Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập cùng ngày 16/12/2024 tại trụ sở Công an huyện T;
- - Biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 20/12/2024 tại chỗ ở của Nguyễn Cao Bảo H thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình;
- - Bản Kết luận giám định số 1868/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Các mẫu vật gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 14,1 kg.
- - Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K1 và anh Phạm Duy K
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 10 năm 2024, Nguyễn Cao Bảo H nảy sinh ý định chế tạo pháo nổ để bán kiếm lời nên đã lên mạng internet tìm hiểu cách làm, đặt mua các dụng cụ và nguyên liệu cần thiết (như KClO3, lưu huỳnh...) để sản xuất pháo nổ. Sau khi có đủ các dụng cụ và nguyên liệu, H đã chế tạo được tổng số 100 quả
pháo nổ hình trụ tròn có kích thước khác nhau (trong đó, quả lớn nhất có kích thước dài 21,5cm, đường kính 8 cm; quả nhỏ nhất có kích thước dài 5,3cm, đường kính 1,5cm) và 1 tràng pháo nổ dài 113cm. Đến đầu tháng 12/2024, H đã bán 20 quả pháo nổ có khối lượng 4,3 kg cho Phạm Duy K sinh năm 2002 ở cùng thôn lấy 300.000 đồng và bán 01 tràng pháo nổ có khối lượng 01 kg cho Nguyễn Văn K1 sinh năm 1988 trú tại thôn H, xã N, huyện T lấy 300.000 đồng. Khi được Cơ quan điều tra triệu tập lên làm việc, H đã tự giác giao nộp 80 quả pháo nổ có khối lượng 8.8 kg, vỏ pháo cùng toàn bộ nguyên liệu dùng để sản xuất pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ H sản xuất, buôn bán là 14,1 kg.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Cao Bảo H đã phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định tội “ Sản xuất, buôn bán hàng cấm”:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;
b) Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước cấm sản xuất, đầu tư, kinh doanh. Trong thời gian qua trên các phương tiện thông tin truyền thông đã thường xuyên tuyên truyền các quy định của pháp luật, đặc biệt là Nghị định 137 của Chính phủ nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi của mình nhằm thu lợi nhuận một cách bất hợp pháp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương và trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về nhân thân, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 600.000 đồng có được do phạm tội mà có để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi sản xuất, buôn bán, tàng trữ và đốt các loại phảo nổ là vi phạm pháp luật, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiện trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương và ấn định một thời gian thử thách nhất định cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo.
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số pháo thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ và 01 số công cụ, phương tiện thu giữ trong vụ án bị cáo dùng để sản xuất pháo nổ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 600.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001795 ngày 17/01/2025 đây là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7]. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này còn có anh Nguyễn Văn K1 và anh Phạm Duy K là những người mua pháo của Nguyễn Cao Bảo H với mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra xác định anh K1 và anh K không có tiền án, tiền sự; khối lượng pháo thu giữ của K và K1 đều dưới 6kg nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính đối với anh K1 và anh K là có căn cứ và đúng pháp luật.
[8]. Về nguồn gốc số thuốc pháo: Quá trình điều tra, Nguyễn Cao Bảo H khai mua nguyên liệu làm thuốc pháo và vỏ pháo của những người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ thông qua các hội nhóm trên ứng dụng facebook, tiktok sau đó được các đơn vị vận chuyển mang đến giao cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện T đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được những người đã bán cho H.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao Bảo H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Bảo H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/3/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Cao Bảo H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới”.
3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 cân điện tử bằng nhựa màu trắng đục đã qua sử dụng; 02 hộp nhựa có nắp màu đỏ, đường kính nắp là 9,5 cm, đường kính đáy hộp là 9,5 cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình hộp màu trắng có kích thước (65 x 3 x 1,5)cm; cuộn băng dính màu trắng, đã qua sử dụng; 02 chiếc thìa loại nhỏ bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 ống nhựa màu cam, có chiều dài 48 cm, đường kính 1 cm, đã qua sử dụng; 01 cuộn nilong có chiều dài 50 cm, đường kính 8 cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình trụ tròn màu trắng, chiều dài 26 cm, đường kính 0,7cm, đã qua sử dụng; 01 vợt lọc thanh kim loại, chiều dài 33,5 cm, đường kính 18cm, đã qua sử dụng; 01 nhíp bằng kim loại, một đầu nhọn dùng để kẹp, dài 12,5 cm, đã qua sử dụng; 01 tấm gỗ có kích thước (65 x 13,5 x 2)cm, trên tấm gỗ có gắn một thanh kim loại hình hộp màu trắng có kích thước (66 x 2 x
1)cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, chiều dài 11,5 cm, đường kính 1cm, một đầu bịt kín, một đầu gắn kim loại nhọn, đã qua sử dụng; 33 vật hình trụ tròn được cuốn bằng nhiều lớp giấy, có một đầu được bịt kín, một đầu hở, vật to nhất dài 12,5 cm và đường kính 06 cm, vật nhỏ nhất dài 8 cm và đường kính dài 3,6 cm. (vỏ pháo); 67 vật hình trụ tròn được cuốn bằng nhiều lớp giấy màu đỏ có in chữ “Vạn sự như ý”, có một đầu được bịt kín, một đầu hở, kích thước đều bằng nhau mỗi vật dài 5 cm và đường kính 1,9 cm (vỏ pháo); 02 hộp bìa cát tông bên ngoài được niêm phong kín bằng các dải niêm phong màu trắng và băng dính. Trên các dải niêm phong đều có 3 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K3, Công an tỉnh T, 3 chữ ký và 3 dòng chữ viết (Phạm Văn B, Nguyễn Văn C, Đinh Ngọc K2), bên trong có các vật hình trụ tròn, tổng khối lượng là 10,5 kg.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Cao Bảo H đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001795 ngày 17/01/2025.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Cao Bảo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/3/2025).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Chu Thị Linh |
Bản án số 17/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (sản xuất, buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 17/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sản xuất, buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Cao Bảo H phạm tội
