TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-3-2025
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quang Vinh
- Bà Ngô Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 321/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Chị D vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn N vào ngày 26/10/1998, đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc. Đến năm 2021, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay, không quan tâm, chăm sóc tới nhau nữa. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh N nên chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh N.
Về nuôi con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Viết H1, sinh ngày 06/11/2007. Chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Nguyễn Viết H1 sau khi ly hôn. Chị không yêu cầu giải quyết đối với việc nuôi con chung Nguyễn Văn H do cháu đã trưởng thành trên 18 tuổi. Do chị có công việc, thu nhập ổn định nên không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh N không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh với người thân, chính quyền địa phương nơi anh N cư trú xác định: Chị D và anh N có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống giữa chị D và anh N có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau. Chị D và anh N đã sống ly thân nhau từ năm 2012 cho đến nay.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Văn N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị D được ly hôn anh N; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Viết H1, sinh ngày 06/11/2007 cho chị D nuôi dưỡng; đối với con chung Nguyễn Văn H2, sinh ngày 03/11/1999 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: Do chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
- [1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị D làm đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Văn N, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị D khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh N, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- [3] Sự vắng mặt của các đương sự: Chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
[4] Về quan hệ hôn nhân:
Chị D và anh N đăng ký kết hôn ngày 26/12/1998 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân giữa chị D và anh N là hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị D xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xảy ra bất đồng, không tìm được tiếng nói chung; vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2012 đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng, yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
HĐXX thấy lời khai của chị D phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân về việc xác định mâu thuẫn và sự việc sống ly thân, do đó có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh N đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị D được ly hôn anh N.
[5] Về quan hệ con chung: Chị D và anh N có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Viết H1, sinh ngày 06/11/2007. Chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Nguyễn Viết H1 sau khi ly hôn. HĐXX thấy rằng: Cháu H1 đang do chị D nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần cháu H1 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị D không yêu cầu giải quyết đối với việc nuôi con chung Nguyễn Văn H do cháu đã trưởng thành trên 18 tuổi nên HĐXX không xem giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[6] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Viết H1, sinh ngày 06/11/2007 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn N không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này.
Về việc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/11/1999: Chị D không yêu cầu giải quyết do con đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007834 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị D đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Mai Lan |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
