|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày: 07-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Bạt Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bút
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang mở phiên toà lưu động công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLHS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Đức A
sinh ngày 21/5/1996 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức T và bà Võ Thị T1 (cả 2 đều còn sống); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giam ngày 15/10/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đức T, sinh năm 1965; Địa chỉ thường trú: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Nơi cư trú hiện nay: Thôn C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 17 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, Công an huyện H phát hiện bắt quả tang Lê Đức A đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích bán cho người khác. Lực lượng chức năng thu giữ tang vật gồm: 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng (Lê Đức A khai là ma tuý đá) (mẫu ký hiệu A); 01 điện thoại di động SamSung màu đen; 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát: 43G1-477.02; 01 vỏ bao thuốc là CRAVEN.
Trên cơ sở bắt quả tang, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đức A tại thôn C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng và tiếp tục thu giữ:
- Thu giữ trong hộp nhựa màu hồng đặt trên kệ gỗ đựng sách trong phòng ngủ của Lê Đức A 01 gói ni lông bên trong chưa chất tinh thể màu trắng (Theo Anh khai là ma túy đá) (Niêm phong ký hiệu A1).
- Thu giữ trên kệ ti vi trong phòng ngủ của Lê Đức A 02 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng (theo Anh khai là ma túy đá) (niêm phong ký hiệu A2).
- Thu giữ trên tấm nệm trong phòng ngủ của Lê Đức A 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa, 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa.
Quá trình điều tra xác định:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, có một người thanh niên tên L (Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) dùng số điện thoại 0705.808.xxx gọi đến số điện thoại 0342.611.xxx của Lê Đức A nhờ mua giúp 1.200.000 đồng ma tuý sẽ cho Anh 500.000 đồng thì A đồng ý. Sau đó, Anh đến khu vực phường D, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam tìm gặp một người tên N (Hiện chưa các định được nhân thân lai lịch) mùa 700.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma tuý, Anh cất giấu trong người rồi quay về nhà tại thôn C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Tại đây, Anh lấy gói ma tuy vừa mua được chiết thành 04 gói ma tuý, Anh cất giấu 03 gói ma tuý ở trong phòng ngủ của mình nhằm mục đích để sử dụng. Gói ma tuý còn lại Anh bỏ vào gói thuốc CRAVEN rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade BKS 4301- 477.02 đem đến khu vực thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng để giao cho đối tượng L thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số: 873 ngày 24/10/2024 của Phòng K kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong các gói ni long ký hiệu A, A1, A2 là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể mẫu A là 1,068 gam; mẫu A1 là 0,142 gam và mẫu A2 là 4,082 gam.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Đức A về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Đức A đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức A mức án: từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định gồm: 0,858 gam mẫu A, 0,061 gam mẫu A1, 3,344 gam mẫu A2; 01 vỏ bao thuốc là CRAVEN và 1 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa, 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa, 01 hộp nhựa màu hồng xét không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động SamSung màu đen tài sản bị cáo sử dụng để liên hệ mua bán ma túy, đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát: 43GI- 477.02: Qua điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu của cha ruột bị can Anh là ông Lê Đức T, ông A cho bị can mượn đi lại và không biết việc bị can A sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định là có căn cứ.
- Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Lê Đức A là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng và tiền sử dụng mục đích cả nhân nên ngày 15/10/2024 Lê Đức A vào phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam mua 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lê Đức A mang về nhà phân thành 04 gói nhỏ, Anh cất dấu 03 gói ma túy (mẫu ký hiệu A1, A2) trong phòng ngủ của mình mục đích để sử dụng; 01 gói ma túy (mẫu ký hiệu A) còn lại Lê Đức A đem đến khu vực thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng để bán cho đối tượng lên Lon (chưa xác định được nhân thân lai lịch) thì bị bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số: 873 ngày 24/10/2024 của Phòng K kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong các gói ni long ký hiệu A, A1, A2 là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể mẫu A là 1,068 gam; mẫu A1 là 0,142 gam và mẫu A2 là 4,082 gam.
Như vậy, với hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A) có khối lượng 1,068 gam nhằm mục đích để bán cho người khác để kiếm lời của bị cáo Lê Đức A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi tàng trữ 03 gói ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A1, A2) có tổng khối lượng 4,224 gam nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội, sức khỏe, tinh thần của người sử dụng. Nhưng vì hám lợi và để có ma túy sử dụng cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, có nguy cơ làm gia tăng nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nòi giống dân tộc. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Riêng đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” mục đích của bị cáo là để kiếm lời, do đó, ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Đức A không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo của địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: số ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định gồm: 0,858 gam mẫu A, 0,061 gam mẫu A1, 3,344 gam mẫu A2; 01 vỏ bao thuốc là CRAVEN; 1 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa, 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa; 01 hộp nhựa màu hồng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Đối với 01 điện thoại di động SamSung màu đen của Lê Đức A.
- Đối với xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát: 43GI- 477.02: Qua điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu của cha ruột bị can Anh là ông Lê Đức T, ông A cho bị can mượn đi lại và không biết việc bị can A sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo Lê Đức A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
[7] Đối với đối tượng tên L đặt mua ma túy của Lê Đức A, chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là có cơ sở. Đối với bà Võ Thị T1 và ông Lê Đức T là cha mẹ ruột của bị cáo Lê Đức A không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý là có cở sở.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Đức A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 0,858 gam ma túy loại Methamphetamine (Mẫu A); 0,061 gam ma túy loại Methamphetamine (Mẫu A1); 3,344 gam ma túy loại Methamphetamine (Mẫu A2); 01 vỏ bao thuốc là CRAVEN; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa, 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động SamSung màu đen của Lê Đ
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
Xử phạt: Lê Đức A 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (Sáu) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt tù chung của cả 02 tội buộc bị cáo Lê Đức A phải chấp hành là: 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 15/10/2024.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê Đức A 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
(Vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2025)
Buộc bị cáo Lê Đức A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Hòa Vang;
- - Công an huyện Hòa Vang;
- - Chi cục THADS huyện Hòa Vang;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Bạt Hào |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Anh phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
