TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 3 - 2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thu Thúy
- Ông Bùi Đức Nhân
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Thế N, sinh năm 1990; nghề nghiệp: sửa chữa ô tô nơi thường trú: T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: số C N, tổ F, khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1994; nghề nghiệp: nhân viên lễ tân quán hát; nơi thường trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ G, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Thế N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn với chị Đỗ Thị B vào ngày 24/02/2021, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn, anh chưa có vợ còn chị B đã từng ly hôn chồng; hai bên có thời gian tìm hiểu nhau một vài tháng trước khi tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống tại thành phố H sống được một năm rồi về nhà bố mẹ anh ở thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội được khoảng ba tháng. Sau đó vợ chồng anh xuống thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuê nhà để làm ăn nhưng anh chị chỉ ở với nhau được mấy tháng thì nảy sinh mâu thuẫn nên anh về lại nhà bố mẹ ở Hà Nội sống, còn chị B và con vẫn ở nhà thuê ở thành phố H. Đến tháng 01 năm 2022, khi con chung của vợ chồng được 01 (một) tuổi thì anh đón cháu về ở với mình tại nhà của bố mẹ đẻ trên Hà Nội. Đến khoảng tháng 02/2024, chị B đón con chung về Hạ L ở với chị B. Hiện con vẫn ở với chị B tại nhà thuê ở địa chỉ tổ A, khu G, phường H, thành phố H. Khi chị B đón con xuống H thì anh xuống Hạ L thuê nhà và làm việc để có điều kiện được thăm gặp con. Thời gian đầu anh ở cùng chị B và con tại nhà chị B thuê. Trong quá trình ở, giữa anh và chị B lại xảy ra mâu thuẫn nên đến tháng 7/2024 anh dọn ra chỗ làm việc ở xưởng sửa chữa ô tô ở tại đó. Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ khoảng tháng 4/2021, nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, lối sống và cách sinh hoạt dẫn đến hai vợ chồng cãi vã về nhiều vấn đề khác trong cuộc sống, không thể tìm được tiếng nói chung để cùng đi đến cách giải quyết. Khi mâu thuẫn xảy ra thì gia đình hai bên nội ngoại đều biết và khuyên can vợ chồng hòa giải nhưng không được. Bản thân anh cũng nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ tháng 7/2024, anh và chị B đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Đến nay, anh thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục và hàn gắn được, bản thân anh không còn tình cảm với chị B nên đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị B.
Về con chung:
Anh và chị Đỗ Thị B có 01 (một) con chung là Phạm Ngọc D, sinh ngày 19/01/2021. Anh đề nghị được nuôi con chung Phạm Ngọc D và không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại anh đang làm việc và ở tại xưởng sửa chữa ô tô, thời gian làm việc hàng ngày của anh buổi sáng từ 08 giờ đến 12 giờ, buổi chiều khoảng từ 13 giờ 30 phút đến 18 giờ 30 phút. Thu nhập trung bình một tháng của anh khoảng 15 triệu đồng, đủ điều kiện về thu nhập và thời gian để chăm sóc con. Anh xác định điều kiện nuôi con của chị B đảm bảo nhưng thời gian làm việc của chị không đảm bảo dạy dỗ con chu đáo. Trường hợp chị B đổi công việc đảm bảo thời gian chăm con thì anh đồng ý giao con cho chị B nuôi.
Về tài sản chung và nợ chung:
Anh và chị Đỗ Thị B không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Bị đơn - chị Đỗ Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như anh N đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn chị và anh N chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến cãi vã, sứt mẻ tình cảm. Khi mâu thuẫn xảy ra thì gia đình hai bên nội ngoại đều biết và khuyên vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Bản thân chị và anh N cũng nhiều lần tìm cách hàn gắn, cho nhau cơ hội nhưng không khắc phục được mâu thuẫn. Hiện tại chị thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã rất trầm trọng, không thể khắc phục được nên anh N muốn ly hôn, chị đồng ý.
Về con chung:
về con chung của chị với anh N như anh N đã trình bày là đúng sự thật. Chị không đồng ý với quan điểm của anh N về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị được nuôi con chung Phạm Ngọc D và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị hiện tại đang làm lễ tân tại quán K, thu nhập một tháng khoảng từ 15 đến 25 triệu đồng. Thời gian làm việc của chị từ 13 giờ đến 16 giờ và từ 19 giờ đến 23 giờ hàng ngày. Hiện tại chị đang thuê nhà ở, có đủ các điều kiện về thu nhập và thời gian chăm sóc con. Chị không đồng ý cho anh N nuôi con vì chị là mẹ sẽ chăm cháu tốt hơn, anh N không đảm bảo thu nhập nuôi con. Vì lúc ở với nhau kinh tế chị lo, anh N có thì đưa thêm. Khi sống ly thân thì lúc anh chu cấp nuôi con, lúc không chu cấp. Bản thân chị không nắm rõ thu nhập của anh N một tháng bao nhiêu tiền.
Về tài sản chung:
Chị và anh Phạm Thế N không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
3. Xác nhận của chính quyền địa phương nơi chị Đỗ Thị B tạm trú thể hiện:
Chị Đỗ Thị B tạm trú tại tổ A, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh từ vài năm nay. Chị B có chồng là anh Phạm Thế N, hiện không ở cùng nhau, hiện chị B đang sống cùng mẹ và con gái. Anh N đôi lúc có về thăm con, giữa anh N và chị B có mâu thuẫn nên anh N chỉ đến thăm con chứ không ở lại cùng chị B.
Xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh Phạm Thế N hiện đang sinh sống thể hiện: Anh Phạm Thế N hiện đang làm việc tại xưởng sửa chữa ô tô An Khang tại địa chỉ C N thuộc tổ F, khu H, phường H, thành phố H. Anh N làm việc và ở tại đây cùng với nhân viên của xưởng, không thấy ở cùng với vợ con. Quá trình anh N đến ở và làm việc có báo với tổ dân khu phố.
4. Tại phiên tòa, anh N và chị B vẫn giữ nguyên quan điểm thuận tình ly hôn; về con chung: Anh N và chị B đều đề nghị được trực tiếp nuôi con Phạm Ngọc D, sinh ngày 19/01/2021; không yêu cầu cấp dưỡng.
5. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Phạm Thế N và chị Đỗ Thị B được ly hôn; về con chung: giao con chung Phạm Ngọc D, sinh ngày 19/01/2021 cho chị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phạm Thế N khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn chị Đỗ Thị B có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thế N và chị Đỗ Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mâu thuẫn giữa anh N và chị B đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn. Anh N và chị B không còn nguyện vọng chung sống với nhau nữa đều thuận tình ly hôn. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị B là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Thế N và chị Đỗ Thị B có 01 (một) con chung là Phạm Ngọc D, sinh ngày 19/01/2021. Anh N và chị B đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Xét về điều kiện nuôi dưỡng con chung của anh N và chị B như anh N, chị B xác nhận đều có đủ điều kiện nuôi con, có thu nhập ổn định, thời gian anh N, chị B không sống cùng nhau điều kiện nuôi con của cả hai đều đảm bảo. Tuy nhiên, anh N và chị B không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Con chung của anh N và chị B chưa đủ 07 tuổi, cần sự chăm sóc về vật chất, ăn uống, nuôi dậy. Anh N và chị B đã thuận tình ly hôn, để đảm bảo ổn định việc sinh sống, học tập và phát triển của cháu D theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giao con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị B không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phạm Thế N và chị Đỗ Thị B không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Anh Phạm Thế N tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Thế N và chị Đỗ Thị B.
giao con chung Phạm Ngọc D, sinh ngày 19/01/2021 cho chị Đỗ Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Anh Phạm Thế N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Thế N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Thế N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Đỗ Thị B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Đỗ Thị B không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phạm Thế N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Anh Phạm Thế N tự nguyện chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001367 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Anh Phạm Thế N đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn anh Phạm Thế N, bị đơn chị Đỗ Thị B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Cúc |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
