Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NINH HÒA

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Những người tiến hành tố tụng:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đào Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 27/5/1995 tại: Khánh Hoà; Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phan Tiến Đ (sinh năm 1973) và bà Nguyễn Thị Mỹ L (sinh năm 1972);

Tiền án: Ngày 08/12/2022 bị Toà án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 360/2022/HS-ST. Chấp hành xong ngày 14/4/2024 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 229/GCN ngày 14/4/2024 của Trại giam A.

Tiền sự: Ngày 06/12/2024 bị Công an xã K, huyện K xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Chưa thi hành.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N từ ngày 22/12/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Phạm Hoàng G, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Thu T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Đ, thôn M, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

2

* Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Phương T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Ông Lê Phạm Công H1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc H là người đã bị kết án về tội cướp giật tài sản, chưa được xoá án tích nhưng sau khi chấp hành hình phạt tù về địa phương thì tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Sáng ngày 22/12/2024, bị cáo H bắt xe khách từ xã K, huyện K đến thị xã N. Khi đến Ngã Ba T thuộc địa phận thị xã N thì bị cáo xuống xe và đi bộ để tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở nhằm mục đích trộm cắp. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn X, xã N, thị xã N, H phát hiện xe mô tô hiệu Equal, biển số 79L4-7262 của ông Phạm Hoàng G dựng trong sân nhà, có gắn sẵn chìa khoá và không có người trông coi thì H lén lút đi vào, bật chìa khoá định dắt xe ra ngoài thì bị ông G phát hiện truy hô, H bỏ chạy thì bị ông G cùng người dân ở gần đó bắt giữ được, giao cho Công an xã N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Xe mô tô biển số 79L4-7262 trị giá 1.500.000 đồng.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa vẫn giữ nội dung quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc H, xử phạt bị cáo H từ 9 tháng đến 01 năm tù, hình phạt bổ sung: Không. Về phần dân sự: Ông Phạm Hoàng G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Về vật chứng: 01 áo khoác thun dài tay màu nâu, 01 quần vải dài màu đen, 01 mũ vải màu đen, 01 ba lô vải màu đen (bên trong có: 01 áo thun dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu xanh): đề nghị trả lại cho Trần Ngọc H.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận nội dung truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai.

3

Lời nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, để có cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm, sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Phạm Hoàng G đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Thu T và những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy căn cứ điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo H đã bị kết án về tội Cướp giật tài sản, chưa được xoá án tích nhưng vì lười lao động lại mong muốn có tài sản một cách nhanh chóng, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, lợi dụng sự vắng mặt của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo H mặc dù là người đã thành niên, đang trong độ tuổi lao động, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng không những không tu chí làm ăn lương thiện mà còn bất chấp các chế tài của pháp luật để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên do bị phát hiện, truy bắt kịp thời nên chưa lấy được tài sản vì vậy thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự.

4

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tại phiên toà, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì thế bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về vật chứng của vụ án: Xe mô tô hiệu Equal biển số 79L4-7262: đã được Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã N trả cho chủ sở hữu là ông Phạm Hoàng G theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 06/01/2025 (Bút lục 41). Việc trả lại tài sản cho bị hại là đúng quy định của pháp luật nên không xét.

- Đối với 01 áo khoác thun dài tay màu nâu, 01 quần vải dài màu đen, 01 mũ vải màu đen, 01 ba lô vải màu đen (bên trong có: 01 áo thun dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu xanh) là tài sản cá nhân của bị cáo H nên xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Hoàng G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/12/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Trần Ngọc H 01 áo khoác thun dài tay màu nâu, 01 quần vải dài màu đen, 01 mũ vải màu đen, 01 ba lô vải màu đen (bên trong có: 01 áo thun dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu xanh).

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hoà).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng

5

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa;
  • - Công an thị xã Ninh Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN NGỌC H PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger