Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 17/2025/HS-PT

Ngày: 28/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức

Bà Lê Thị Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trịnh Xuân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST23 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXPT-HS ngày 13/02/2025.

Bị cáo có kháng cáo:

Trịnh Xuân T, sinh năm 1975, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Xuân K và bà Nguyễn Thị M; Có vợ: Lê Thị P và 02 con: Lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H1(đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn C1– Sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 47 phút ngày 16/3/2024, Nguyễn Văn M1 không có giấy phép lái xe môtô, điều khiển xe môtô biển kiểm soát 36B5 - 444.83 chở phía sau chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980, trú tại thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đi điều trị bệnh từ Bệnh viện đa khoa huyện H về thôn S, xã H. Khi đi đến Km 294 + 900 QL1A thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn M1 điều khiển xe trên làn đường dành cho xe thô sơ, không giảm tốc độ. Lúc này, phía trước cùng chiều trên làn xe cơ giới có xe ôtô biển kiểm soát 36A - 120.46 do Trịnh Xuân T điều khiển, không giảm tốc độ mà xin nhan chuyển hướng rẽ phải vào đường liên xã Y. T nhìn gương bên phải thấy ánh đèn xe môtô nhưng vì chủ quan, thiếu chú ý quan sát, nên chuyển hướng không đảm bảo an toàn. Lúc này, Nguyễn Văn M1 cũng điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, đi đến khu vực đông dân cư, giao nhau với đường ưu tiên không giảm tốc độ để có thể dừng lại ở mức an toàn nên dẫn đến xe môtô biển kiểm soát 36B5 - 444.83 do M1 điều khiển đâm vào đầu trước bên phải khung gầm và mặt ngoài bên phải đầu xe ôtô biển kiểm soát 36A- 120.46 do Trịnh Xuân T điều khiển làm xe môtô, ông M1 và chị H1 ngã xuống đường. Hậu quả Nguyễn Văn M1 bị thương 13%, chị H1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T sau đó tử vong.

*Kết quả khám nghiện hiện trường hồi 19 giờ 30 phút ngày 16/3/2024:

Hiện trường chung là đường QL1A được trải nhựa bằng phẳng có 02 chiều xe chạy riêng biệt ngăn cách nhau bằng dải phân cách cứng. Nơi xảy ra tai nạn nằm ở khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Q và đường liên xã Y (dải phân cách mở), nằm trên chiều đường T - Hà Nội có 03 làn xe chạy, 02 làn xe cơ giới rộng 3,5 mét/làn, 01 làn xe thô sơ rộng 3,25m, phía trước nút giao có biển cảnh báo đi chậm, biển chỉ dẫn và gờ giảm tốc độ.

Lấy chân cột biển chỉ dẫn nơi quay đầu xe trên chiều đường T đi Hà Nội làm điểm mốc, lấy tâm vạch sơn phân chia làn xe cơ giới và làn xe thô sơ của chiều đường T đi Hà Nội làm mép chuẩn. Tiến hành khám nghiệm (được đánh số từ 01 đến 05 thể hiện đầy đủ trong biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường) xác định:

  • - Vị trí số (1) là xe ô tô BKS: 36A - 120.46 đầu xe hướng Hà Nội chếch vào đường liên xã Y hướng đi Đền thờ Trần Hưng Đ, mép ngoài cùng tâm bánh trước bên phải xe cách mép chuẩn là 1,92m, mép ngoài cùng tâm bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 0,62m, cách điểm mốc là 13,5m.
  • - Vị trí số (2) là tổ hợp các vết cà trượt dài 15,7m, rộng 0,82m, vết có chiều Thanh Hóa hướng Hà Nội chếch vào Đền T2. Điểm đầu vết cách mép chuẩn là 2,30m, cách tâm bánh trước bên phải xe ô tô BKS: 36A - 120.46 là 0,45m, cuối vết nằm dưới mặt đường nơi đỗ của xe mô tô BKS: 36B5 - 444.83, điểm cuối cách mép chuẩn là 9,50m.
  • - Vị trí số (3) là vết mảnh vỡ có kích thước (6,65 x 1,6)m, điểm đầu vết cách đầu vết (2) là 8,35m, cách mép chuẩn là 6,75m (đồng thời là điểm gần nhất với mép chuẩn).
  • - Vị trí số (4) là xe môtô BKS: 36B5 - 444.83 nằm nghiêng trái, đầu xe hướng Hà Nội chếch vào Đền T2. T1 bánh sau cách mép chuẩn 9,3m, cách điểm đầu vết mảnh vỡ (3) là 5,20m, tâm bánh trước cách mép chuẩn là 10,05m.
  • - Vị trí số (5) là vết máu có kích thước (0,23 x 0,6)m. T1 vết cách tâm bánh sau xe môtô BKS: 36B5 - 444.83 là 2,1m, cách mép chuẩn là 7,25m.

* Cơ chế hình thành dấu vết:

Ngày 18/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định cơ chế hình thành dấu vết để thu thập tài liệu, dấu vết va chạm trên phương tiện. Ngày 08/04/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh T có kết luận giám định số 1413/KL - KTHS kết luận:

  1. Va chạm giữa xe ôtô BKS: 36A - 120.46 với xe môtô BKS: 36B5 - 444.83
    • - Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài đầu trước bên phải khung gầm xe và mặt ngoài bên phải đầu xe ôtô BKS:36A - 120.46 (ảnh 3,4,5) với mặt trước ngoài đầu bên trái trục trước và mặt ngoài càng trước bên trái xe môtô BKS: 36B5 - 444.83 (ảnh 18,19,20).
    • - Tại thời điểm va chạm, xe ôtô BKS: 36A - 120.46 có hướng từ trái sang phải cùng chiều so với hướng chuyển động của xe môtô BKS: 36B5 - 444.83.
    • - Vị trí va chạm nằm trước đầu các vết cà trượt (2), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên làn đường dành cho xe thô sơ của chiều đường theo hướng từ tỉnh Thanh Hóa đi thành phố Hà Nội, ngay đầu phía Nam khu vực giao nhau giữa Quốc lộ A với đường đi đền T2 thuộc địa phận xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
    • - Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện vào thời điểm xảy ra va chạm.
  2. Ngoài va chạm với nhau, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ôtô BKS: 36A - 120.46, xe môtô BKS: 36B5 - 444.83 với phương tiện khác.

* Giám định tử thi:

Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm P1 xác định nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị H1. Ngày 25/04/2024 Trung tâm P1 kết luận giám định pháp y tử thi số: 384/KLGĐTT - PYTH, kết luận: Nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị H1 là sốc chấn thương trên bệnh nhân chấn thương sọ não nặng gây suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục.

* Kết quả khám nghiệm tử thi, mô bệnh học và thương tích.

  • - Tại kết luận giám định số: 384/KLGĐTT-PYTH ngày 25/04/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P1 kết luận: Nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị H1 là do sốc chấn thương trên bệnh nhân chấn thương sọ não nặng gây suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục.
  • - Tại kết luận giám định số: 385/KLGĐTT-PYTH ngày 18/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P1 về mô bệnh học trên các mẫu phủ tạng của chị Nguyễn Thị H1 kết luận: Trên các mẫu mô đã gửi làm giám định pháp y về vi thể thấy hình ảnh mô bệnh học của tổn thương: phù và ngấm tụ các thành phần hữu hình của máu, hệ thống cơ và mô mềm nhiều chỗ gián đoạn còn cầu cơ do dập nát. Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng mô nhiều chỗ đứt đoạn và nham nhở không liên tục, thành mạch máu ngấm tụ và hiện hữu các thành phần hữu hình của máu (hình ảnh tổn thương não, màng cứng, da, cơ mô mềm và mạch máu trước chết do tác động của ngoại lực bởi chấn thương tạo nên.
  • * Tại kết luận giám định số: 2695/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của V - Bộ C3 về tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe đối với ông Nguyễn Văn M1 kết luận:
    • + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn M1 tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm).
    • + Tổn thương tay trái, chân trái, gãy xương sườn của ông Nguyễn Văn M1 do vật tày gây ra.
  • * Kết quả giám định nồng độ cồn, ma tuý trong máu
    • - Tại Bản kết luận giám định số: 2140/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của V - BCA, kết luận giám định nồng độ cồn trong máu, kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của ông Nguyễn Văn M1 gửi giám định đều không tìm thấy ethanol (cồn).
    • - Tại Bản kết luận giám định số: 2132/KL-KTHS ngày 01/04/2024 của V - B, kết luận giám định ma túy trong máu, kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu ghi thu của ông Nguyễn Văn M1 gửi giám định.
  • * Giám định video:
  • Tại Bản kết luận giám định số: 1444/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03) tệp video của 01 USB gửi giám định.

  • * Kết quả định giá tài sản:
  • Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/2024/KLĐG ngày 26/4/2024 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện H kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại của xe môtô BKS: 36B5 - 444.83 là 950.000 đồng. Giá trị tài sản thiệt hại của xe ôtô BKS: 36A - 120.46 là 1.450.000 đồng.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2024/HS-ST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn tuyên hình phạt của bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 30/12/2024, bị cáo Trịnh Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo.

* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trịnh Xuân T, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Xuân T làm theo đúng quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo.

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Xuân T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 47 phút, ngày 16 tháng 3 năm 2024, tại Km 294 + 900 QL1A thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Xuân T có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 36A – 120.46 do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi đến đường giao nhau, khi chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn. Cùng thời điểm, Nguyễn Văn M1 không có giấy phép lái xe, cũng điều khiển xe môtô biển kiểm soát 36B5 - 444.83 chở phía sau chị Nguyễn Thị H1, khi đến khu vực đông dân cư, giao nhau với đường ưu tiên nhưng không giảm tốc độ đến mức an toàn cho người và phương tiện khác dẫn đến xe môtô do M1 điều khiển đâm vào bên phải đầu xe ôtô do T điều khiển. Hậu quả làm chị Nguyễn Thị H1 tử vong. Hành vi của Trịnh Xuân T đã vi phạm khoản 1, khoản 2, Điều 15 của Luật giao thông đường bộ và hành vi của Nguyễn Văn M1 đã vi phạm khoản 9, Điều 8, khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (Được quy định chi tiết tại Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G).

[3] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện H nói riêng, tình hình tai nạn giao thông đang diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Trong vụ án này, nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của các bị cáo, đã vi phạm các quy tắc của Luật giao thông đường bộ.

Bị cáo T có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô khi đi đến đường giao nhau mặc dù phía trước nút giao có biển cảnh báo đi chậm, biển chỉ dẫn và gờ giảm tốc, nhưng bị cáo không giảm tốc độ mà vẫn cho xe chuyển hướng, khi chuyển hướng thiếu chú ý quan sát dẫn đến việc va chạm giữa xe ô tô của bị cáo và xe mô tô của M1. Hành vi của bị cáo và M1 dẫn đến chị Nguyễn Thị H1 tử vong. Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mạng lo sợ. Hành vi phạm tội bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo T, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy đình tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điêu 51 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Trịnh Xuân T 15(Mười lăm) tháng tù là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, Bị cáo Trịnh Xuân T có thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo có mẹ đẻ bà Nguyễn Thị M là thương binh với tỷ lệ thương tật 23% đang được hưởng trợ cấp hàng tháng, được thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình: Hiện bị cáo đang chăm sóc bố mẹ già trên 70 tuổi không còn khả năng lao động; có anh trai bị ảnh hưởng chất độc màu da cam và thiểu năng trí tuệ, không có khả năng lao động và đang được hưởng trợ cấp hàng tháng của Nhà nước; vợ bị cáo bệnh tật, không có việc làm, hiện tại đang ở nhà; con bị cáo đang đi học và chính quyền địa phương đã xác nhận các nội dung bị cáo trình bày là đúng sự thật, đề nghị các cấp tạo điều kiện. Như vậy, tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú và gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để xem xét chuyển hình phạt, cho được hưởng án treo để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Từ phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trịnh Xuân T là có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa đại diện Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ pháp luật.

[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trịnh Xuân T được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sựđiểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trịnh Xuân T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 80/2024/HS-ST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Trịnh Xuân T được hưởng án treo.

Áp dụng:

Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố:

Bị cáo Trịnh Xuân T phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt:

Bị cáo Trịnh Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ( 28/02/2025).

Giao bị cáo Trịnh Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sựTrong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

* Về án phí: Bị cáo Trịnh Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ I TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND, TAND, THAHS huyện Hà Trung;
  • - THADS huyện Hà Trung;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tổ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Ngọc Lâm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

Lê Thị Hiệu

Lê Ngọc lâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 28 tháng 02 năm 2025

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị H2

Ông Đào Anh Đ1

Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 27/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trịnh Xuân T, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sựđiểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trịnh Xuân T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 80/2024/HS-ST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Trịnh Xuân T được hưởng án treo.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Xuân T phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ( 28/02/2025).

Giao bị cáo Trịnh Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sựTrong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về án phí: Bị cáo Trịnh Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

B1

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trịnh Xuân T phạm tội: VPQĐTGGTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger