|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:17/2025/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm
Bà Bùi Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 2 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLST- HNGĐ ngày 26/12/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2025/QĐST- HNGĐ ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1998; HKTT: Khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng T- sinh năm 1991, HKTT: Khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Hồng T đăng ký kết hôn ngày 27/12/2018 tại UBND xã V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu, không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian thì anh T đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Từ đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống. Sau đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện nay, hai vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, chị và anh T không có sự chia sẻ hàn gắn, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 12/4/2020. Hiện nay cháu T1 đang ở cùng chị và bà ngoại (mẹ đẻ chị T1). Sau khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị giải quyết.
Chị H có đơn đề nghị không tham gia hoà giải và xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm giải quyết vụ án.
* Bị đơn anh Nguyễn Hồng T trình bày:
Anh nhất trí với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Thúy H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và công sức công nợ chung. Mâu thuẫn vợ chồng nay đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên anh đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị H.
Về con chung: Hiện cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 12/4/2020 đang ở với chị Nguyễn Thị Thúy H. Do anh đang ở nước ngoài và để đảm bảo việc việc học tập và sinh hoạt của cháu nên anh cũng nhất trí giao cháu T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không đề nghị giải quyết.
Hiện anh đang ở Đài Loan không về Việt Nam giải quyết vụ án được nên anh xin vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị Thúy H.
Về án phí ly hôn: Anh nhất trí để chị H chịu toàn bộ án phí ly hôn.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật HNGĐ; căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTDS; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T.
+ Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của hai anh chị về việc giao cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 12/4/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị nên không giải quyết.
+ Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của các đương sự trình bày tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng:Chị Nguyễn Thị Thúy H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hồng T. Theo công văn của Cục Q - Bộ C: Anh Nguyễn Hồng T đã xuất cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Trước khi xuất cảnh, anh T có hộ khẩu tại khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay anh T đang ở nước ngoài. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Hồng T đăng ký kết hôn ngày 27/12/2018 tại UBND xã V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu, không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian thì anh T đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Từ đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống. Sau đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện nay, hai vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, chị và anh T không có sự chia sẻ hàn gắn, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T có gửi bản tự khai nhờ chị H nộp cho Toà án có thể hiện nội dung: Về quan hệ hôn nhân và con chung đúng như chị hằng trình bày. Nay chị H làm đơn ly hôn anh đồng ý ly hôn, về con chung chị H mong muốn nuôi con chung thì anh cũng đồng ý do anh đi làm xa không có điều kiện trực tiếp con chung. Do anh đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên không về được đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh. Tuy nhiên, anh T không cung cấp địa chỉ của anh T tại Đài Loan.
Tại kết luận giám định số 226/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh P đã kết luận chữ ký và chữ viết trong bản tự khai và đơn xin xử vắng mặt đứng tên anh Nguyễn Hồng T do chị Nguyễn Thị Thúy H giao nộp cho Tòa án là chữ ký và chữ viết của anh Nguyễn Hồng T
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa chị H và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H và anh T thuận tình ly hôn là phù hợp Điều 55 luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 12/4/2020. Hiện nay cháu T1 đang ở cùng chị H. Sau khi ly hôn, chị H và anh T đều thống nhất để chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần được ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, công sức, công nợ chung: Do chị H và anh T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử :
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Hồng T.
+ Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Hồng T về việc nuôi con như sau: Giao cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 12/4/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H. Chị H không được ngăn cản việc anh T thăm nom, chăm sóc con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị nên không giải quyết.
+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Hồng T mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H nộp thay anh T số tiền 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng chị H phải nộp là 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận sự chị H đã nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000484 ngày 25/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị Hằng số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Thời hạn kháng cáo của anh T là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Toàn |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị H anh T
