|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Đình T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên lạc: Số E, đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(anh T, chị H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Hoàng Đình T trình bày: Năm 2017, anh và chị H xây dựng gia đình với nhau trên cơ cở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 10/7/2017. Sau khi kết hôn anh và chị H sinh sống, làm việc tại thôn T, xã Đ, huyện L. Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống với nhau không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn anh cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thể được. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị H, nếu kéo dài tình trạng hộn nhân như hiện nay khiến cả hai mệt mỏi. Do đó anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Giữa anh và chị H có 01 con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con, con ở với ai thì thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng anh tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng anh không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đặng Thị H trình bày: Năm 2017, chị và anh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ cở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 10/7/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm việc tại thôn T, xã Đ, huyện L. Sau khi kết hôn về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng chị hòa thuận hạnh phúc. Tuy nhiên, đến cuối năm 2022 thì vợ chồng xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn chị cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm với anh T nhưng không thể được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng kéo dài, không thể cải thiện được, chị xác định chị không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay anh T làm đơn yêu cầu ly hôn với chị thì chị đồng ý.
Về con chung: Giữa chị và anh T có 01 con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng chị tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Đình T, xử cho anh T và chị H được ly hôn.
Về con chung: Đề nghị giao con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017 cho chị Đặng Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con; việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Buộc anh Hoàng Đình T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh T và bị đơn chị H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đình T và chị Đặng Thị H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 10/7/2017 nên quan hệ hôn nhân của anh T và chị H là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T thì thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh T và chị H có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống với nhau không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn, cả anh T và chị H đều đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được và vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay, anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì chị H cũng đồng ý. Do vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của anh T, xử cho anh T và chị H được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Cả anh T và chị H cùng xác định, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017. Khi ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con, con ở với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng; còn chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Qua xác minh thì được biết hiện nay con chung của anh T và chị H do chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N đi học lớp 2 và phát triển bình thường; đồng thời cháu N hiện đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định điều kiện chăm sóc, học tập và phát triển cho trẻ, cần giao con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017 cho chị H người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Cả anh T và chị H đều xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Cả anh T và chị H đều xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc anh Hoàng Đình T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Đình T, xử cho anh Hoàng Đình T và chị Đặng Thị H được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Đình N, sinh ngày 18/11/2017 cho chị Đặng Thị H có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; anh Hoàng Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Anh Hoàng Đình T phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005130 ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Anh Hoàng Đình T đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Ngô Thị Luân |
Thạch Thị Lan Nhung |
Trần Minh Huấn |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trọng Hà - Ly hôn
