Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 27/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Lượng
  2. Ông Ma Quốc Thể

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2025, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS, ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Hà Văn N, sinh ngày 31/5/1997 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Thôn K, xã H (nay là xã H), huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T, sinh năm 1968 và bà Đào Thị T1, sinh năm 1969; vợ: Mai Diệu L, sinh năm 2002; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 12/12/2017 chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).

2. Vũ Văn T2, sinh ngày 14/12/1992 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân V (đã chết) và bà Trần Thị T3, sinh năm 1970; vợ: Phan Thị T4, sinh năm 2000; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 02;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 90 ngày 11/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 01 năm 08 tháng tù, phạt tiền 3.000.000đ và 200.000đ án phí HSST. Ngày 10/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/8/2023 nộp 1.200.000đ (trong đó 200.000đ án phí, 1.000.000đ tiền phạt), ngày 18/9/2023 được TAND huyện Sơn Dương ra quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền còn lại.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).

3. Phùng Văn V1, sinh ngày 25/6/1992 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn L, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn H, sinh năm 1966 và bà Đặng Thị L1, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 104 ngày 24/12/2009 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/6/2011 chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).

4. Hoàng Hồng T5, sinh ngày 30/10/1982 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn L, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con con ông Hoàng Ngọc T6 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1952; vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ 06;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị T4, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lần 1: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, Vũ Văn T2 gọi điện qua ứng dụng M cho Hà Văn N để hỏi mua ma túy với số tiền 1.400.000đ. N đồng ý và bảo T2 chuyển tiền trước, T2 chuyển khoản cho N số tiền 500.000 đồng. N đi taxi đến khu vực ngã ba thuộc xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 1.000.000đ. Nguyên cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N gọi điện cho T2 qua ứng dụng M1 nói có ma túy rồi chuyển nốt tiền, T2 chuyển cho N số tiền 1.100.000đ (trong đó 200.000đ là tiền công T2 nhờ N mua ma túy và 900.000đ là tiền mua ma túy). Khoảng 10 giờ ngày 17/9/2024, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu sơn bạc, biển số 22S1-495.09 (xe của T2) đến nhà N lấy 01 gói ma túy. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đồi keo thuộc thôn L, xã V, huyện S sử dụng hết số ma túy bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 23/9/2024, Phùng Văn V1 đến nhà Hoàng Hồng T5. T5 nói với V1 “Cậu chạy mình góp tiền mua ma túy về sử dụng”, V1 đồng ý và gọi điện cho T2 nói “Anh ở đâu đấy, anh em mình đi mua ít ma túy về chơi”. T2 trả lời “Ừ, chuyển khoản tiền cho anh đi, anh đi mua”. V1 góp 500.000đ, T5 góp 200.000đ, T2 góp 2.300.000đ. Sau đó T2 gọi điện qua ứng dụng messenger cho N hỏi mua ma túy với số tiền 3.000.000đ, N đồng ý và bảo T2 chuyển tiền. T2 chuyển khoản cho N số tiền 5.000.000đ (trong đó 2.000.000đ là T2 trả nợ cho N và 3.000.000đ tiền mua ma túy). Sau khi nhận được tiền, N đi taxi đến khu vực ngã ba thuộc xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 4.000.000đ, N cất giấu trên người rồi đi về nhà, N chia gói ma túy thành 02 gói bằng túi nilon khác nhau. Sau đó N gọi điện thoại cho T2 đến lấy ma túy. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T2 và V1 đến nhà N vào phòng ngủ thì N đưa 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đã cho T2. T2 cất giấu vào người rồi cùng V1 đi về. T2 nói với V1 sáng ngày 24/9/2024 đến nhà T5 để sử dụng ma túy. Sau khi V1 và T2 ra về, thì N chia số ma túy còn lại thành 18 gói (01 gói nilon màu trắng có viền miệng túi màu đỏ và 17 gói nilon màu trắng có viền miệng túi màu xanh).

Khoảng 09 giờ ngày 24/9/2024, T2 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho V1 hỏi đang ở đâu thì V1 nói đang đến nhà T5. T2 điều khiển xe mô tô biển số 22S1-495.09 mang theo gói ma túy đã và 01 ống bằng thủy tinh hình trụ tròn có một đầu uốn cong màu trắng, 01 ống nhựa màu đỏ, 01 ống nhựa màu xanh, 01 nắp chai nhựa màu đen để làm dụng cụ sử dụng ma túy đến nhà T5; khi T2 đến nhà nói với T5 sử dụng ma túy ở đây được không. T5 đồng ý, T5 nhặt 01 nắp chai nhựa màu trắng ở gầm cầu thang. T2 dùng bật lửa hơ nóng chìa khóa xe mô tô của T2 rồi đục 02 lỗ nhỏ hình tròn ở nắp chai nhựa màu đen rồi lấy một đầu của ống thủy tinh gắn với ống nhựa màu xanh rồi cắm vào 01 lỗ, còn ống hút nhựa màu đỏ T2 cắm vào lỗ còn lại để trên giường. T2 cất một đoạn nhựa màu đỏ để xúc ma túy, T5 đã lấy 01 chai nhựa sanh đổ đổ nước vào để trên giường. V2 xoáy nắp chai nhựa màu đen đã gắn ống nhựa và ống thủy tinh vào chai nhựa để làm công cụ sử dụng ma túy. T2 bỏ gói ma túy ra giường rồi lấy 01 đoạn nhựa để cắt một đầu xúc một phần ma túy đổ vào ống thủy tinh để cùng nhau sử dụng. V1 dùng bật lửa gas hơ đốt ma túy trong phễu thủy tinh cho T2 là người hút ma túy đầu tiên, xong đến T5, Võ tự đốt và hút ma túy vào cơ thể. Lúc này, Nguyễn Đức Q. cư trú tại thôn L, xã V, huyện S đến nhà T5 chơi, có xin sử dụng ma túy cùng, T2, V1, T5 đồng ý. Q sử dụng 5, 6 lần thì về (T2 không thu tiền của Q). Sau đó, T2, V1 và T5 tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy. Khi thấy ma túy trong phễu thủy tinh gần hết, V1 lấy một phần ma túy đổ vào đầu ống thủy tinh rồi thay nhau sử dụng. Số ma túy còn lại trong gói nilon màu trắng, T2 cất giấu trong người. Lúc sau, Tổ công tác Công tác Công an xã V và Công an huyện S kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ cùng ngày. Thu giữ 01 gói ma túy và số tiền 1.000.000 đồng do T2 giao nộp, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, 03 bật lửa gas, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 04 điện thoại di động và 01 xe mô tô biển số 22S1-495.09.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám xét người và nơi ở của Hà Văn N thu giữ tại phòng ngủ của N gồm: 01 gói nilon màu trắng, miệng túi có viền màu đỏ được đóng kín, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng; 17 gói nilon màu trắng viền miệng túi màu xanh được đóng kín, bên trong túi chứa tinh thể màu trắng.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Hà Văn N, Vũ Văn T2, Phùng Văn V1 và Hoàng Hồng T5, Nguyễn Đức Q kết quả (+) dương tính.

* Kết luận giám định số 1283/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng trong 18 gói nilon thu giữ của Hà Văn N đều là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,308g (Hai phảy ba không tám gam).

* Kết luận giám định số 1284/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon thu giữ của Vũ Văn T2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,253g (Không phảy hai năm ba gam).

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tạm giữ:

  • 02 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy (S còn lại sau khi lấy mẫu giám định) thu giữ của Vũ Văn T2 và Hà Văn N.
  • 01 chai nhựa màu trắng, bên trong chai có chứa nước, nắp chai màu đen, cổ chai có vòng nhựa màu vàng; trên mặt nắp chai có 02 lỗ hình tròn, lỗ thứ nhất gắn ống hút bằng nhựa màu đỏ, lỗ thứ hai gắn ống thủy tinh hình trụ tròn một đầu được uốn cong một đầu được gắn ống nhựa màu xanh; 03 chiếc bật lửa gas; 01 nắp nhựa hình tròn màu trắng có đường kính 10,5cm; 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu đỏ, một đầu được cắt nhọn, chiều dài 02cm.
  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu sơn xanh bạc, biển số 22S1-495.09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu trắng, bên trong lắp 01 sim số 0332670816; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim số 0363468451 và 0854653308; số tiền 1.000.000 đồng của Vũ Văn T2.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim số 0368841993 của Phùng Văn V1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng ghi, bên trong có lắp 01 sim số 0335017230 của Hoàng Hồng T5.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0855626986; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ đen, bên trong lắp 01 sim số 0825893782 của Hà Văn N.

Cáo trạng số 10/CT-VKSSD, ngày 03/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Hà Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; Vũ Văn T2, Hoàng Hồng T5, Phùng Văn V1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Vũ Văn T2, Hoàng Hồng T5, Phùng Văn V1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm 03 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).

+ Xử phạt: Bị cáo Hoàng Hồng T5 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 đến 09 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).

+ Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn V1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm 03 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).

Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, giám định ngày 24/9/2024";
  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hà Văn N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Hà Văn N, giám định ngày 24/9/2024";
  • + 01 chai nhựa màu trắng, bên trong chai có chứa nước, nắp chai màu đen, cổ chai có vòng nhựa màu vàng; trên mặt nắp chai có 02 lỗ hình tròn, lỗ thứ nhất gắn ống hút bằng nhựa màu đỏ, lỗ thứ hai gắn ống thủy tinh hình trụ tròn một đầu được uốn cong một đầu được gắn ống nhựa màu xanh;
  • + 03 chiếc bật lửa gas, trong đó có 02 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chiếc bật lửa màu trắng;
  • + 01 nắp nhựa hình tròn màu trắng có đường kính 10,5cm;
  • + 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu đỏ, một đầu được cắt nhọn, chiều dài 02cm.

- Trả lại cho chị Phan Thị T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu trắng, bên trong lắp 01 sim số 0332670816.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T2 số tiền 1.000.000đ; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu sơn xanh bạc, biển số 22S1-495.09; bị cáo Hà Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0855626986, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Phùng Văn V1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim số 0368841993, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Hồng T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng ghi, bên trong có lắp 01 sim số 0335017230, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim số 0363468451 và 0854653308, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Vũ Văn T2.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ đen, bên trong lắp 01 sim số 0825893782 của Hà Văn N.

- Truy thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo Hà Văn N số tiền 4.600.000đ (do bị cáo bán ma túy mà có).

Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

[1.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hà Văn N:

  • - Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 17/9/2024, tại thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Hà Văn N đã có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 1.400.000 đồng cho Vũ Văn T2.
  • - Lần 2: Khoảng 23 giờ ngày 23/9/2024, tại thôn K, xã H, huyện S. Hà Văn N tiếp tục có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Methaphetamine với số tiền 3.000.000 đồng cho Vũ Văn T2.

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/9/2024, Hà Văn N còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,308g (Hai phảy ba không tám gam) ma tuý Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời.

[1.2] Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý của Vũ Văn T2, Phùng Văn V1, Hoàng Hồng T5:

  • - Khoảng 11 giờ ngày 24/9/2024, Vũ Văn T2 và Hoàng Hồng T5, Phùng Văn V1 cùng nhau góp số tiền 3.000.000đ mua ma túy, loại Methamphetamine của Hà Văn N, về cùng làm dụng cụ, cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức đốt hít vào cơ thể tại nhà ở của Hoàng Hồng T5.
  • - Hồi 12 giờ ngày 24/9/2024, tại nhà ở của Hoàng Hồng T5, thuộc thôn Làng Đu, xã V, huyện S. Vũ Văn T2, Hoàng Hồng T5 và Phùng Văn V1 đã có hành vi tàng trữ 0,253g (Không phảy hai năm ba gam) ma tuý, loại Methaphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Hà Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; Vũ Văn T2, Hoàng Hồng T5, Phùng Văn V1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS, là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, trực tiếp là hoạt động mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công chặt chẽ cho từng bị cáo. Các bị cáo đều là đối tượng sử dụng ma túy cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng. Trong đó: Bị cáo T5 là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V1, góp 200.000đ và chuẩn bị nước, dùng nhà ở của mình cho các đối tượng sử dụng ma túy; V1 là người gọi điện rủ T2 góp tiền 500.000đ, cùng T2 đi lấy ma túy về sử dụng; bị cáo T2 là người trực tiếp liên hệ với N để mua ma túy, góp số tiền nhiều nhất 2.300.000đ, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy. Sau khi bị phát hiện thu giữ của các bị cáo T2, T5, Võ 0,253g (Không phảy hai năm ba gam) mục đích tàng trữ để sử dụng, nên các bị cáo T2, T5, Võ phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội.

Đối với bị cáo N có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo Hà Văn N có ông nội là ông Hà Văn K được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ông ngoại là Đào Văn G được Nhà nước thưởng Huân chương chiến thắng hạng ba trong thời kỳ kháng chiến và có mẹ là Đào Thị T1 được giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo N.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng:

- Đối với:

  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, giám định ngày 24/9/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hà Văn N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Hà Văn N, giám định ngày 24/9/2024";
  • + 01 chai nhựa màu trắng, bên trong chai có chứa nước, nắp chai màu đen, cổ chai có vòng nhựa màu vàng; trên mặt nắp chai có 02 lỗ hình tròn, lỗ thứ nhất gắn ống hút bằng nhựa màu đỏ, lỗ thứ hai gắn ống thủy tinh hình trụ tròn một đầu được uốn cong một đầu được gắn ống nhựa màu xanh;
  • + 03 chiếc bật lửa gas, trong đó có 02 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chiếc bật lửa màu trắng;
  • + 01 nắp nhựa hình tròn màu trắng có đường kính 10,5cm;
  • + 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu đỏ, một đầu được cắt nhọn, chiều dài 02cm.

Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành, và các dụng cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy, nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim số 0363468451 và 0854653308, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Vũ Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ đen, bên trong lắp 01 sim số 0825893782 của Hà Văn N.

Đây là phương tiện mà bị cáo N, T2 dùng để giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu trắng, bên trong lắp 01 sim số 0332670816 của chị Phan Thị T4 (vợ của bị cáo Vũ Văn T2), chị T4 không biết bị cáo T2 sử dụng điện thoại vào việc giao dịch mua bán ma túy, nên trả lại chị Phan Thị T4.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim số 0368841993 của bị cáo Phùng Văn V1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng ghi, bên trong có lắp 01 sim số 0335017230 của bị cáo Hoàng Hồng T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0855626986 của bị cáo Hà Văn N, đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc hàng ngày, nên trả lại cho các bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với số tiền 1.000.000đ; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu sơn xanh bạc, biển số 22S1-495.09 của bị cáo Vũ Văn T2, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo T2, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Số tiền bị cáo Hà Văn N 02 lần bán ma túy cho bị cáo T2 được tổng cộng 4.600.000đ, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông theo Nguyên khai nhận là người bán ma túy cho N tại khu vực ngã ba thuộc xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Văn N, Vũ Văn T2, Phùng Văn V1, Hoàng Hồng T5 và Nguyễn Đức Q. Ngày 19/11/2024, Công an huyện S đã xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Vũ Văn T2, Phùng Văn V1, Hoàng Hồng T5 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt đối với các bị cáo:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • + Xử phạt bị cáo Vũ Văn T2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Phùng Văn V1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Hoàng Hồng T5 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/9/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, giám định ngày 24/9/2024”;
  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hà Văn N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Hà Văn N, giám định ngày 24/9/2024";
  • + 01 chai nhựa màu trắng, bên trong chai có chứa nước, nắp chai màu đen, cổ chai có vòng nhựa màu vàng; trên mặt nắp chai có 02 lỗ hình tròn, lỗ thứ nhất gắn ống hút bằng nhựa màu đỏ, lỗ thứ hai gắn ống thủy tinh hình trụ tròn một đầu được uốn cong một đầu được gắn ống nhựa màu xanh;
  • + 03 chiếc bật lửa gas, trong đó có 02 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chiếc bật lửa màu trắng;
  • + 01 nắp nhựa hình tròn màu trắng có đường kính 10,5cm;
  • + 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu đỏ, một đầu được cắt nhọn, chiều dài 02cm.

- Trả lại cho chị Phan Thị T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu trắng, bên trong lắp 01 sim số 0332670816.

- Trả lại cho các bị cáo: Vũ Văn T2 số tiền 1.000.000đ; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu sơn xanh bạc, biển số 22S1-495.09; Phùng Văn V1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim số 0368841993; bị cáo Hoàng Hồng T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng ghi, bên trong có lắp 01 sim số 0335017230; Hà Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0855626986. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim số 0363468451 và 0854653308, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Vũ Văn T2.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ đen, bên trong lắp 01 sim số 0825893782 của Hà Văn N.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

(Số tiền 1.000.000đ thu giữ của bị cáo Vũ Văn T2 hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).

- Truy thu sung quỹ nhà nước của bị cáo Hà Văn N số tiền 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Các bị cáo Hà Văn N, Vũ Văn T2, Phùng Văn V1, Hoàng Hồng T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - CQ CSĐT Công an huyện SD;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Hồng Sơn;
  • - UBND xã Văn Phú;
  • - UBND xã Tiên Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma tuý; tàng trữ trái phép chất ma tuý; tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý; Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hà Văn N: - Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 17/9/2024, tại thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Hà Văn N đã có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 1.400.000 đồng cho Vũ Văn T2. - Lần 2: Khoảng 23 giờ ngày 23/9/2024, tại thôn K, xã H, huyện S. Hà Văn N tiếp tục có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Methaphetamine với số tiền 3.000.000 đồng cho Vũ Văn T2. Hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/9/2024, Hà Văn N còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,308g (Hai phảy ba không tám gam) ma tuý Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời. [1.2] Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý của Vũ Văn T2, Phùng Văn V1, Hoàng Hồng T5: - Khoảng 11 giờ ngày 24/9/2024, Vũ Văn T2 và Hoàng Hồng T5, Phùng Văn V1 cùng nhau góp số tiền 3.000.000đ mua ma túy, loại Methamphetamine của Hà Văn N, về cùng làm dụng cụ, cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức đốt hít vào cơ thể tại nhà ở của Hoàng Hồng T5. - Hồi 12 giờ ngày 24/9/2024, tại nhà ở của Hoàng Hồng T5, thuộc thôn Làng Đu, xã V, huyện S. Vũ Văn T2, Hoàng Hồng T5 và Phùng Văn V1 đã có hành vi tàng trữ 0,253g (Không phảy hai năm ba gam) ma tuý, loại Methaphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger