|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:17/2025/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Kiều Thị Thắng và bà Nguyễn Thị Nghị.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mậu Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Ngọc Đ, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1993 tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc T (đã chết) và bà Hoàng Thị X; có vợ Nguyễn Thị Thanh H và 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: 01 tiền án: Bản án số 47 ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 104, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2017; Dân sự, Đ chưa bồi thường số tiền 25.000.000đ cho bị hại;
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 31 ngày 18/01/2012 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 60 BLHS 1999 xử phạt 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản chiếm đoạt 32.010.000 đồng). Đăng đã chấp hành xong;
+ Ngày 05/8/2019 bị Công an huyện Tam Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (750.000 đồng) về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Đăng chấp hành ngày 17/10/2019; bị cáo tại ngoại “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hoàng Mạnh C, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1993 (vắng mặt); Địa chỉ cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc
-Anh Phan Thế N, sinh năm 1993 (vắng mặt). Địa chỉ cư trú: Phố M, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 05/9/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương nhận được đơn tố giác của quần chúng nhân dân về việc đối tượng Đỗ Ngọc Đ có hành vi cho người khác vay tiền với lãi suất cao (5.000₫/1.000.000đ/01 ngày vay, tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự) để thu lợi bất chính. Trong đó, Đỗ Ngọc Đcho anh Hoàng Mạnh Cvà anh Trần Văn T1, vay tiền. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương tiến hành triệu tập Đỗ Ngọc Đ;anhHoàng Mạnh Cvà anh Trần Văn T1để làm việc. Quá trình làm việc, cả 03 người đều thừa nhận việc Đỗ Ngọc Đcho anh C và anh T1 vay tiền với lãi suất cao như đơn tố giác, cụ thể:
Đối với anh Hoàng Mạnh C: Từ ngày 25/12/2023 đến ngày 06/7/2024, Đỗ Ngọc Đ cho anh C vay 03 lần với tổng số tiền cho vay là 40.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tức 182,5%/01 năm); Đỗ Ngọc Đ đã thu tổng số tiền lãi là 29.500.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 26.606.851 đồng, tiền lãi theo quy định là 2.893.149 đồng. Cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 25/12/2023, Đỗ Ngọc Đ cho anh C vay số tiền 20.000.000 đồng. Đăng cắt lãi luôn cho 30 ngày vay nên thực tế Đ chỉ chuyển cho anh C số tiền 17.000.000 đồng với khoản vay này. Số tiền này được Đ chuyển khoản từ số tài khoản của Đ 1028.395.472.68 mở tại Ngân hàng V đến số tài khoản của anh C 100.892.524.666 mở tại Ngân hàng V. Đến ngày 15/6/2024, anh C đã trả cho Đ số tiền gốc vay của khoản vay này. Như vậy, anh C đã vay tiền của Đ trong thời gian 174 ngày, với số tiền lãi thực tế Đăng nhận là 19.000.000 đồng, số tiền Đ đã thu lợi bất chính là: 19.000.000₫ – 20% ÷ 365 × 174 × 20.000.000đ = 17.093.151 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 30/12/2023, Đỗ Ngọc Đ cho anh C vay số tiền 10.000.000 đồng. Đăng cắt lãi luôn cho 30 ngày vay nên thực tế Đ chỉ chuyển cho anh C số tiền 8.500.000 đồng qua số tài khoản ngân hàng trên. Đến ngày 15/6/2024, anh C đã trả cho Đ số tiền gốc vay của khoản vay này. Như vậy, Đ cho anh C vay tiền trong thời gian 169 ngày với số tiền lãi thực tế Đăng nhận là 9.000.000 đồng, số tiền Đ đã thu lợi bất chính là: 9.000.000₫ – 20% ÷ 365 × 169 × 10.000.000đ = 8.073.973 đồng.
Lần thứ ba: Ngày 06/7/2024, Đỗ Ngọc Đ cho anh C vay số tiền 10.000.000 đồng. Đăng cắt lãi luôn cho 30 ngày vay và trừ đi 1.000.000 đồng tiền lãi C còn thiếu của Đ những lần trước nên thực tế Đ chỉ chuyển cho anh C số tiền 7.500.000 đồng từ tài khoản của vợ Đ là chị Nguyễn Thị Thanh H số 103.341.3283 mở tại ngân hàng V1. Đến ngày 16/7/2024, anh C đã trả cho Đ số tiền gốc vay của khoản vay này. Như vậy, Đ cho anh C vay tiền trong thời gian 11 ngày với số tiền lãi thực tế Đăng nhận là 1.500.000 đồng, số tiền Đ đã thu lợi bất chính là: 1.500.000₫ – 20% ÷ 365 × 11 × 10.000.000đ = 1.439.727 đồng.
Đối với anh Trần Văn T1, từ ngày 10/03/2024 đến ngày 08/8/2024, Đỗ Ngọc Đcho anh T1 vay tổng số 03 lần với số tiền là 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000₫/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tức 182,5%/01 năm). Đ đã thu tổng số tiền lãi của anh T1 là 25.500.000đ, trong đó, Đ thu lợi bất chính 22.678.084 đồng, tiền lãi theo quy định là 2.893.149 đồng. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 10/03/2024, Đỗ Ngọc Đcho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Đăng cắt lãi luôn cho 30 ngày vay, nên thực tế Đ chỉ chuyển cho T1 số tiền 8.500.000 đồng. Số tiền lãi Đ đã thu lợi bất chính từ anh T1 tính đến ngày 08/4/2024 (trong 30 ngày) là: 1.500.000₫ – 20% ÷ 365 × 30 × 10.000.000đ = 1.335.617 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 17/03/2024, Đỗ Ngọc Đcho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Đăng cắt lãi luôn cho 30 ngày vay, nên thực tế Đ chỉ chuyển cho anh T1 số tiền 8.500.000 đồng với khoản vay này. Số tiền lãi Đ đã thu lợi bất chính từ anh T1 tính đến ngày 08/4/2024 (trong 23 ngày) là: 1.500.000₫ – 20% ÷ 365 × 23 × 10.000.000đ = 1.373.973 đồng.
Lần thứ ba: ngày 08/4/2024, Đỗ Ngọc Đ cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, Đvà anh T1 thống nhất gộp các khoản đã vay là số tiền 30.000.000 đồng và đóng lãi 4.500.000 đồng/30 ngày. Sau khi làm việc với cơ quan điều tra, anh T1 đã trả số tiền gốc 30.000.000 đồng cho Đ. Đ đã thu tiền lãi của anh T1 kể từ ngày 08/4/2024 là 154 ngày = 22.500.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính của anh T1 là: 22.500.000 - 20% ÷ 365 × 154 × 30.000.000 = 19.968.494 đồng.
Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính từ các khoản cho anh C và anh T1 vay tiền với lãi suất cao quá mức quy định của pháp luật là: 26.606.851 + 22.678.084 = 49.284.935 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone XsMax do Đỗ Ngọc Đ tự nguyện giao nộp để yêu cầu: Khôi phục, trích xuất toàn bộ dữ liệu là tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, M trong điện thoại từ ngày 25/12/2023 đến hết ngày 05/9/2024.
Tại bản Kết luận giám định số 3286 ngày 18/11/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định, kết quả: Không tìm thấy dữ liệu là tin nhắn SMS, ứng dụng Zalo, M trong thời gian từ ngày 25/12/2023 đến hết ngày 05/9/2024”.Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã yêu cầu các Ngân hàng sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng giữa Đỗ Ngọc Đvới anh Hoàng Mạnh Cvà anh Trần Văn T1,đồng thời yêu cầu các Ngân hàng cung cấp thông tin những tài khoản có giao dịch có dấu hiệu bất thường liên quan đến Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương tiến hành triệu tập làm việc với những người này để xác minh, làm rõ nội dung các giao dịch, cụ thể:Giao dịch với Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1993 (Vợ Đỗ Ngọc Đ). Quá trình điều tra Đ và H đều khai nhận có một số lần Đ nhờ H chuyển tiền và nhận tiền, khi Đ nhờ H chuyển tiền thì chỉ nói chuyển tiền cho bạn, khi nhận tiền thì chỉ hỏi H
đã nhận được tiền chuyển khoản chưa. H không biết, không tham gia và không liên quan đến việc Đ cho người khác vay tiền với lãi suất cao. Giao dịch với tài khoản Ngân hàng M1 số 0387.819.947 của Phạm Hoàng D, sinh năm 2007, hộ khẩu thường trú: tổ dân phố V, thị trấn H, huyện T. Tại bản sao kê tài khoản Ngân hàng của Đ có giao dịch D chuyển khoản cho Đ số tiền 2.500.000 đồng với nội dung: “Em Nam tra no” ngày 28/03/2024. Đ khai nhận do đã lâu nên Đ không nhớ người chuyển khoản là ai, Đ không có mối quan hệ quen biết gì với Phạm Hoàng D và cũng không nhớ được nội dung những giao dịch chuyển khoản là gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập D để làm việc tuy nhiên D không có mặt tại địa phương, không xác định được D ở đâu nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập làm việc đối với D để làm rõ và xử lý sau.Giao dịch với tài khoản ngân hàng M1 số 098.050.432 của Dương Thị Q, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú ở thôn B, xã H, huyện T. Tại bản sao kê Ngân hàng của Đ ngày 16/5/2024 có giao dịch Q chuyển khoản cho Đ số tiền 1.800.000 đồng với nội dung: “DUONG THI QUYNH tra lai anh D1” và ngày 15/6/2024 với nội dung “DUONG THI QUYNH chuyen tien tra lai anh dang” số tiền 1.500.000 đồng. Đ khai nhận giữa Đ và Q chỉ có mối quan hệ làm ăn, do thời gian đã lâu nên Đ không nhớ được nội dung chuyển tiền giữa Q và Đ ngày hôm đó là gì. Đ chưa từng cho Q vay tiền hay vay tiền với lãi suất cao quá mức quy định của pháp luật, Đ không biết lý do vì sao khi chuyển tiền cho Đ thì Q lại ghi nội dung chuyển khoản như vậy. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Q để làm việc nhưng Q không có mặt tại địa phương, không xác định được Q ở đâu nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập làm việc đối với D để làm rõ và xử lý sau.Giao dịch với tài khoản Ngân hàng Bsố 4251.197.974 của Phan Thế N, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú ở tổ dân phố M, thị trấn H, huyện T. Tại bản sao kê Ngân hàng ngày 30/6/2024 của Đ có giao dịch Đ chuyển khoản cho N số tiền 12.750.000 đồng với nội dung: “DO NGOC DANG chuyen tien 30-6 tong nguyen no 15 trieu”. Đ và N đều khai nhận khoảng tháng 01/2024, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên N vay Đ số tiền 2.250.000 đồng, số tiền này được Đ đưa cho N bằng tiền mặt. Đến ngày 30/6/2024, do thời điểm đó N cần tiền gấp nên N đã vay của Đ số tiền 12.750.000 đồng. Số tiền này được Đ chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của Đăng số 1028.395.472.68 mở tại ngân hàng V đến số tài khoản Ngân hàng của của N số 4251.197.974 mở tại Ngân hàng B. Cả 02 khoản vay trên, Đ đều không lấy tiền lãi của N. Tổng số tiền mà N vay của Đ là 15.000.000 đồng. Khoảng tháng 8/2024, N đã trả cho Đ số tiền này bằng tiền mặt nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật. Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone XsMax, mặt lưng màu đen, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ; 04 tờ giấy A4 (Mẫu vay tiền), xác định là vật chứng vụ án. Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Ngọc Đ thu lợi bất chính là 49.284.935 đồng (trong đó số tiền Đăng thu của anh C là 26.606.851 đồng; số tiền Đăng thu của anh T1 là 22.678.084 đồng. Ngoài ra Đ còn thu số tiền 5.715.065 đồng, là tiền anh C và anh T1 đã trả lãi cho Đ theo lãi suất quy định của pháp luật. Đây là số tiền vi phạm pháp luật.
Đđã sử dụngsố tiền 70.000.000đ cho anh Hoàng Mạnh Cvà anh Trần Văn T1vay với lãi suất cao để thu lợi bất chính.
Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSTD ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đỗ Ngọc Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Đ phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đề nghị xử phạt Đỗ Ngọc Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ. Do Đ không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ
- Về hình phạt bổ sung: Phạt Đỗ Ngọc Đ từ 30.000.000đ đến 50.000.000 sung công quỹ nhà nước;
- Về trách nhiệm dân sự và cật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Ngọc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ để xác định: Lợi dụng vào sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương nên Đỗ Ngọc Đ đã thông qua mạng xã hội tìm hiểu về việc cho vay tiền trong giao dịch dân sự với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/8/2024, Đỗ Ngọc Đ đã cho nhiều người khác vay tiền với lãi suất cao 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày vay, tương ứng với lãi suất 182,5%/ 01 năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự để thu lợi bất chính số tiền 49.284.935 đồng. Trong đó, Đỗ Ngọc Đ cho anh Hoàng Mạnh C vay 03 lần với số tiền 40.000.0000 đồng, đã thu tổng số tiền lãi là 29.500.000 đồng, (thu lợi bất chính 26.606.851 đồng, tiền lãi theo quy định là 2.893.149 đồng); cho anh Trần Văn T1 vay 03 lần với số tiền là 30.000.000 đồng, đã thu tổng số tiền lãi 25.500.000đ (thu lợi bất chính 22.678.084 đồng, tiền lãi theo quy định là 2.893.149 đồng). Đến ngày 05/9/2024, Đỗ Ngọc Đbị người dân tố cáo về
hành vi cho vay lãi nặng và bị cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương triệu tập làm việc.
Hành vi của Đỗ Ngọc Đlà nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng; xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3]. Hành vi cho vay tiền nêu trên của bị cáo Đỗ Ngọc Đ đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 có khung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước. Từ hành vi cho vay lãi nặng có thể nảy sinh ra nhiều tội phạm khác như cưỡng đoạt tài sản, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích... Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe đối với loại tội phạm này.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Đỗ Ngọc Đthành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đỗ Ngọc Đ có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52. Tuy tổng số tiền thu lợi bất chính là 49.284.935 đồng nhưng số tiền chiếm đoạt được của từng lần vay không lớn nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ được quy định trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố là phù hợp. Thời gian bị cáo bị tạm giữ là 08 ngày từ ngày 05 đến ngày 12 tháng 9 năm 2024 sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Do Đ không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo nhưng cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và phải thực hiện nghĩa vụ quy định của Luật thi hành án hình sự.
[6] Về vật chứng và các tài sản bị thu giữ:
-01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone XsMax, mặt lưng màu đen, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ, cần trả lại cho Đ, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án;
-01 điện thoại XS Max màu vàng ốp màu đen Đ dùng để giao dịch cho vay lãi nặng Đ đánh rơi nhưng không nhớ rơi ở đâu, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thấy nên không xem xét giải quyết trong vụ án này;
-04 tờ giấy A4 (Mẫu vay tiền), xác định là vật chứng vụ án cần để trong hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền Đỗ Ngọc Đ thu lời bất chính là 49.284.935 đồng cần truy thu để trả lại cho anh Hoàng Mạnh C26.606.851 đồng và trả lại cho anh Trần Văn T1 22.678.084 đồng; số tiền 70.000.000đ của Đỗ Ngọc Đlà tiền Đsử dụng cho anh Hoàng Mạnh Cvà anh Trần Văn T1 vay với lãi suất cao để thu lợi bất chính cần truy thu để sung công quỹ nhà nước; số tiền 5.715.065 đồng, là tiền anh C và anh T1 đã trả lãi cho Đ theo lãi suất quy định của pháp luật, tuy nhiên đây là số tiền vi phạm pháp luật, cần truy thu để sung quỹ nhà nước.
[8] Các vấn đề khác:Giao dịch với Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1993 (Vợ Đỗ Ngọc Đ).Quá trình điều tra Đ và H đều khai nhận có một số lần Đ nhờ H chuyển tiền và nhận tiền, khi Đ nhờ H chuyển tiền thì chỉ nói chuyển tiền cho bạn, khi nhận tiền thì chỉ hỏi H đã nhận được tiền chuyển khoản chưa. H không biết, không tham gia và không liên quan đến việc Đ cho người khác vay tiền với lãi suất cao.
Giao dịch với tài khoản Ngân hàng M1 số 0387.819.947 của Phạm Hoàng D, sinh năm 2007, hộ khẩu thường trú: tổ dân phố V, thị trấn H, huyện T. Tại bản sao kê tài khoản Ngân hàng của Đ có giao dịch D chuyển khoản cho Đ số tiền 2.500.000 đồng với nội dung: “Em Nam tra no” ngày 28/03/2024. Đ khai nhận do đã lâu nên Đ không nhớ người chuyển khoản là ai, Đ không có mối quan hệ quen biết gì với Phạm Hoàng D và cũng không nhớ được nội dung những giao dịch chuyển khoản là gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập D để làm việc tuy nhiên D không có mặt tại địa phương, không xác định được D ở đâu nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập làm việc đối với D để làm rõ và xử lý sau.
Giao dịch với tài khoản ngân hàng M1 số 098.050.432 của Dương Thị Q, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú ở thôn B, xã H, huyện T. Tại bản sao kê Ngân hàng của Đ ngày 16/5/2024 có giao dịch Q chuyển khoản cho Đ số tiền 1.800.000 đồng với nội dung: “DUONG THI QUYNH tra lai anh D1” và ngày 15/6/2024 với nội dung “DUONG THI QUYNH chuyen tien tra lai anh dang” số tiền 1.500.000 đồng. Đ khai nhận giữa Đ và Q chỉ có mối quan hệ làm ăn, do thời gian đã lâu nên Đ không nhớ được nội dung chuyển tiền giữa Q và Đ ngày hôm đó là gì. Đ chưa từng cho Q vay tiền hay vay tiền với lãi suất cao quá mức quy định của pháp luật, Đ không biết lý do vì sao khi chuyển tiền cho Đ thì Q lại ghi nội dung chuyển khoản như vậy. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Q để làm việc nhưng Q không có mặt tại địa phương, không xác định được Q ở đâu nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập làm việc đối với Q để làm rõ và xử lý sau.
Giao dịch với tài khoản Ngân hàng B số 4251.197.974 của Phan Thế N, tại bản sao kê Ngân hàng ngày 30/6/2024 của Đ có giao dịch Đ chuyển khoản cho N số tiền 12.750.000 đồng với nội dung: “DO NGOC DANG chuyen tien 30-6 tong nguyen no 15 trieu”. Đ và N đều khai nhận khoảng tháng 01/2024, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên N vay Đ số tiền 2.250.000 đồng, số tiền này được Đ đưa cho N bằng tiền mặt. Đến ngày 30/6/2024, do thời điểm đó N cần tiền gấp nên N đã vay của Đ số tiền 12.750.000 đồng. Số tiền này được Đ chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của Đăng số 1028.395.472.68 mở tại ngân hàng V đến số tài khoản Ngân hàng của của N số 4251.197.974 mở tại Ngân hàng B. Cả 02 khoản vay trên, Đ đều không
lấy tiền lãi của N. Tổng số tiền mà N vay của Đ là 15.000.000 đồng. Khoảng tháng 8/2024, N đã trả cho Đ số tiền này bằng tiền mặt nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Đ phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
2. Về mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 12/9/2024 là 08 ngày, quy đổi bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Đỗ Ngọc Đ còn phải chấp hành 01 ( một) năm 08 ( tám) tháng 06 ( sáu) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đỗ Ngọc Đ.
Giao bị cáo Đỗ Ngọc Đ về cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đỗ Ngọc Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo .
Trường hợp bị cáo Đỗ Ngọc Đ thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát các bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Buộc bị cáo Đỗ Ngọc Đ phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3.Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Đỗ Ngọc Đ 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng chẵn).
4. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Áp dụng Điều 46;47,48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự:
-Truy thu của Đỗ Ngọc Đ số tiền thu lợi bất chính là 49.284.935 đồng để trả lại cho anh Hoàng Mạnh C số tiền 26.606.851đồng và trả lại cho anh Trần Văn T1 số tiền 22.678.084 đồng.
-Truy thu số tiền 70.000.000đ của Đỗ Ngọc Đ, là tiền Đ sử dụng cho anh Hoàng Mạnh C và anh Trần Văn T1 vay với lãi suất cao để thu lợi bất chính.
-Truy thu để sung quỹ nhà nước của Đỗ Ngọc Đ số tiền 5.715.065 đồng, là tiền anh C và anh T1 đã trả lãi cho Đ theo lãi suất quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Đỗ Ngọc Đ không thanh toán số tiền nêu trên thì Đ phải chịu lãi suất phát
sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trả lại cho Đỗ Ngọc Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone XsMax, mặt lưng màu đen, đã qua sử dụng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. (vật chứng có đặng điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/02/2025 giữa Công an huyện Tam Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương).Nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản được trả lại để đảm bảo thi hành án.
5.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Bích Ngọc |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng
