Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 25-02-2025.

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Ngô Hoàng Hiệp

- Ông Thạch Na Rết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXX-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn C, sinh ngày 09/10/1996 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 24/12/1998 (có mặt)

Địa chỉ liên hệ: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn kiện ngày 12/11/2024 và tại phiên toà nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn C, trình bày: Anh C và chị T cưới nhau năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng ngày 09/07/2024. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tính cách không hoà hợp, thường xuyên cãi vã, cuộc sống ngày càng căng thẳng, tình cảm giữa vợ chồng không còn không thể hàn gắn nên anh C yêu cầu ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Trần Tuấn H, sinh ngày 05/8/2023, hiện con đang sống chung với cha mẹ anh C và chị T, anh C yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn chị Trần Thị Cẩm T trình bày:

Chị Tiên thống nhất với lời trình bày của anh C về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung, cụ thể về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn thì thời gian đầu chị T và anh C sống chung hạnh phúc với nhau nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do anh C có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài chị T cũng đã tha thứ nhiều lần nhưng anh C không sửa đổi, chị T và anh C đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2024 cho đến nay. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh C thì chị Tiên đồng Ý ly hôn với anh C; Về con chung thì vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Trần Tuấn H, sinh ngày 05/8/2023, sau khi vợ chồng không còn sống chung với nhau thì chị T là người trực tiếp chăm sóc cho con đến nay, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án ly hôn.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Từ khi thụ lý đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn C và bị đơn chị Trần Thị Cẩm T về con chung: Giao con chung cho bị đơn được trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không ai yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Tuấn C: Anh C và chị T tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Anh C yêu cầu ly hôn vì cho rằng sau khi cưới vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống ngày càng căng thẳng, tình cảm giữa vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đã sống ly thân với nhau một thời gian nên xin ly hôn, chị T thì cho rằng mâu thuẫn thì thời gian đầu chị T và anh C sống chung hạnh phúc với nhau nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do anh C có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài chị T cũng đã tha thứ nhiều lần nhưng anh C không sửa đổi, chị T và anh C đã sống ly thân. Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy giữa anh C và chị T có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường xuyên nhưng đến nay vẫn không giải quyết được, anh C xác định tình cảm không còn, tại phiên toà các đương sự thống nhất ly hôn, vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh C và chị T theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Anh C và chị T có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Tuấn H, sinh ngày 05/8/2023 hiện con đang sống chung với chị T và cha mẹ anh C, Anh C yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, chị tiên cũng có nguyện vọng nuôi con Hội đồng xét xử xét thấy cháu H còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, mặc dù đi làm xa nhưng chị tiên vẫn về với con mỗi ngày để cho con gần gũi mẹ, cháu H đã sống ổn định với chị T, đối với anh C thì công việc giờ giấc không đảm bảo để chăm sóc con và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu hưng cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở anh C thực hiện quyền của mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị tiên không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 150.000 đồng, nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn C và bị đơn chị Trần Thị Cẩm T mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 11 nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 01/7/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 2 Điều 11 nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 01/7/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Tuấn C và chị Trần Thị Cảnh T1.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Tuấn H, sinh ngày 05/8/2023 cho chị Trần Thị Cẩm T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành “đủ 18 tuổi”. Anh Nguyễn Tuấn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn C và bị đơn chị Trần Thị Cẩm T mỗi người phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng), nguyên đơn anh C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008013 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, anh C được hoàn lại tiền tạm ứng án phí còn dư 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí nêu trên, anh C đã nộp xong án phí. Bị đơn chị Trần Thị Cẩm T phải nộp tiền án phí 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự có mặt tại phiên Tòa) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ (đối với đương sự vắng mặt tại phiên Tòa) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lâm Tân
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tuyết Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con cảnh - tiên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger