|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-02 - 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Chắc
- Bà Trần Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Lê A, sinh năm: 2000 (có mặt)
- Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
- - Bị đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Lê A (gọi tắt là Lê A) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê A và chị Lý Thị T tự nguyện kết hôn với nhau và năm 2020 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau thời gian sống chung với nhau thì vợ chồng anh chị bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Lê A nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh Lê A yêu cầu được ly hôn với chị Lý Thị T.
- Về con chung: Anh Lê A khai vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Lý Khánh H (giới tính nam), sinh ngày 21/6/2021. Khi ly hôn anh Lê A yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê A khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn chị Lý Thị T nhiều lần để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chị T nhiều lần vắng mặt không có ký do. Tại phiên toà hôm nay chị T tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn Lý Thị T.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị các vấn đề sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho anh Nguyễn Lê A được ly hôn với chị Lý Thị T. Giao con chung là Nguyễn Lý Khánh H cho anh Lê A tiếp tục nuôi dưỡng, chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê A chưa yêu cầu. Danh quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị T, không ai được ngăn cản. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn anh Nguyễn Lê A khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung đối với bị đơn chị Lý Thị T. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn chị Lý Thị T có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Bị đơn triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228, Điều 233 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn chị Lý Thị T nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho của các đương sự theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê A, hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2020 anh Lê A và chị T tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên được xem hôn của anh chị là hợp pháp. Sau thời gian chung sống anh chị đã có con chung với nhau, tuy nhiên cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Nay anh Lê A cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Lê A yêu cầu được ly hôn với chị T. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa anh Lê A và chị T thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, Toà án đã triệu tập chị T nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê A cho anh Lê A được ly hôn với chị T.
[2.2]. Về con chung: Cháu Nguyễn Lý Khánh H (giới tính nam) sinh ngày 21/6/2021, hiện cháu H đang sống chung với anh Lê A được anh Lê A chăm sóc tốt. Do đó để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu H nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Lý Khánh H cho anh Lê A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Lý Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Anh Lê A không yêu cầu chị Lý Thị T cấp dưỡng nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê A khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Từ những nhận định trên có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 233 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Lê A đối với chị Lý Thị T. Cho anh Nguyễn Lê A và chị Lý Thị T được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lý Khánh H (giới tính nam) sinh ngày 21/6/2021 cho anh Nguyễn Lê A tiếp tục nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Lý Thị T không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Lê A không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Lê A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010319 phiếu lập ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/02/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh A yêu cầu ly hôn với chị T
