Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 17/2025/DS-PT

Ngày: 24/02/2025

“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán: Ông Trần Đình Chi

Bà Lê Thị Thu Huyền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2024/DSPT ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXPT - DS ngày 31 tháng 12 năm 2024;

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958 và ông Trần Quốc H, sinh năm 1957. Đều trú tại địa chỉ: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Bà V, ông H có mặt

2. Bị đơn: Ông Trần Quốc C, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Dương Thị Hồng H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
  • - Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  • - Anh Trần Quốc H2, sinh năm 1981. Địa chỉ: khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
  • - Chị Trần Thị Thu H3, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ D, khu E, phường V, thành phố V.

(Anh Đ, anh H2 và chị H3 đều đề nghị xét xử vắng mặt).

- UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N, chủ tịch UBND huyện. Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Q, Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, tỉnh Phú Thọ (Theo giấy ủy quyền ngày 30/8/2024). Xin xét xử vắng mặt.

- UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo pháp luật: Ông Đào Xuân Đ1, chủ tịch UBND xã. Người đại diện theo ủy quyền: ông Hà Ngọc H4, sinh năm 1980, công chức địa chính - xây dựng xã P (Theo giấy ủy quyền ngày 20/8/2024). Xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị V, ông Trần Quốc H trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 120, tờ bản đồ 5A (nay là thửa đất số 256, tờ bản đồ 12), địa chỉ: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ là của cụ Trần Quốc K, cụ Đoàn Thị H5 (vợ cụ K), bố mẹ đẻ của ông H. Trước đó là thửa đất chung của cụ K, cụ H5 sau đó vợ chồng bà nộp tiền và tách ra, đi làm thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền. Đến ngày 08/11/1999, UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị V với diện tích 1010 m² (trong đó có 300 m² đất ở và 710 m² đất vườn). Tại thời điểm cấp đất gồm có 05 thành viên trong hộ gia đình gồm bà V, ông H, anh Đ, anh H2, chị H3, các con của ông bà đều có công sức đóng góp để tạo lập đối với thửa đất. Ngoài 05 thành viên này không ai có đóng góp công sức gì. Đến năm 2014 có chủ trương của nhà nước cấp đổi từ bìa đỏ sang bìa hồng nên ngày 23/4/2014 UBND huyện P cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể thửa đất này đổi thành thửa đất 256, tờ bản đồ 12, diện tích 1108 m² (trong đó có 300 m² đất ở và 808 m² đất trồng cây lâu năm). Trước khi đo đổi tên bìa đỏ sang bìa hồng, khi đơn vị tư vấn đến đo đạc bản đồ số thì không ai có ở nhà, không thông báo cho vợ chồng bà V biết. Sau khi nhận bìa hồng về ông bà có so lại bìa hồng với hiện trạng đất thì thấy đúng thực tế nên không ý kiến gì. Về phần diện tích đất tăng từ bìa đỏ cũ sang bìa đỏ mới là do đo đạc cụ thể trước đo bằng tay, nay đo bằng máy. Hiện nay thửa đất vợ chồng bà V sử dụng có hàng rào bao quanh và ngoài tranh chấp với gia đình ông C thì không có tranh chấp với ai khác. Về diện tích đo đạc thực tế thể hiện chỉ giới của thửa đất là 1,2,3,26,27,28,11,12,13,14,15,16,17,18,19,20,21,22,23,24,25,1 là đúng với thực tế đất đang sử dụng của gia đình bà. Trước đó tại biên bản hòa giải ngày 27/02/2024 vợ chồng bà V trình bày phần đất tranh chấp có chỉ giới 2,3,27,2 nay qua kiểm tra vợ chồng bà V xác định lại phần đất đang tranh chấp với gia đình ông C có chỉ giới 2,3,26,2 diện tích 6,8 m² là đúng. Đối với tài sản ở phần đất tranh chấp thuộc chỉ giới 2,3,26,2 diện tích 6,8m² vẫn như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2023. Tại đơn khởi kiện bà V, ông H đề nghị ông C phải trả lại 2,55 m cổng để ông bà đi lại được dễ dàng. Tại phiên tòa, bà V, ông H đề nghị Tòa án buộc ông C phải trả lại phần đất trồng cây lâu năm thuộc chỉ giới 2,3,26,2 diện tích 6,8 m² cho vợ chồng bà V, ông H. Đối với các tài sản trên phần diện tích 6,8 m² đề nghị ông C, bà H1 phải tháo dỡ để trả lại hiện trạng đất ban đầu. Về chi phí tố tụng đã quyết toán thì quan điểm bà V, ông H bên nào sai thì bên đó phải chịu phần chi phí này.

* Phía bị đơn ông Trần Quốc C trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 152, tờ bản đồ 5a, diện tích 640 m² (nay là thửa đất số 243, tờ bản đồ 12, diện tích 589,3 m²), địa chỉ; khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ là của hộ cụ Trần Quốc K. Năm 1997, vợ chồng ông xây một nhà cấp bốn, hiện nay nhà này không còn do hạ nền và đập đi làm nhà mới. Năm 1999, UBND huyện P mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Trần Quốc K với diện tích 2380 m² (trong đó 300 m² đất ở, còn lại là đất vườn), đến năm 2005 thì cụ K chết, cụ H5 vợ cụ K lúc đó còn sống trên thửa đất này, đến năm 2022 thì cụ H5 chết. Từ khi xây nhà cấp bốn đến nay vợ chồng ông vẫn sống ổn định ở đó. Ngày 19/3/2008 cụ H5 đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông C cụ thể đã tặng cho 640 m² (trong đó 100 m² đất ở, còn lại đất vườn). Đến ngày 21/3/2008 UBND huyện P đã cấp bìa đỏ đứng tên ông C, bà H1, tài sản này là tài sản của ông C, bà H1 chứ không liên quan đến các con ông, bà. Năm 2014, có chủ trương cấp đổi từ bìa đỏ sang bìa hồng nên đơn vị đo đạc tự đến đo không thông báo cho gia đình biết việc đo đạc, đến ngày 23/4/2014 UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đổi thành thửa 243, tờ bản đồ 12, diện tích 589,3 m², sau đó UBND gọi đến nhận bìa hồng đồng thời ký vào bản trích lục bản đồ địa chính đo tháng 05/2012, chữ ký và chữ viết Trần Quốc C trong bản trích lục bản đồ địa chính để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tháng 05 năm 2012 là của ông C. Hiện nay ngoài tranh chấp đất với gia đình bà V thì vợ chồng ông C không có tranh chấp đất với ai khác. Lý do đất của vợ chồng ông thiếu so bìa đỏ với bìa hồng là do bên đo đạc tự ý làm không thông báo cho vợ chồng ông. Về diện tích đo đạc tại bản vẽ của công ty cổ phần K1 thể hiện chỉ giới của thửa đất số 243 là điểm 2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,28,27,26,2 là đúng với thực tế đất đang sử dụng của gia đình ông. Phần đất đang tranh chấp giữa gia đình ông, bà với gia đình bà V, ông H thuộc chỉ giới 2,3,26,2 diện tích 6,8 m² là đúng. Đối với các tài sản trên đất mà Tòa án cùng các cơ quan có thẩm quyền xác định tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2023 là đúng. Nay bà V, ông H đề nghị Tòa án buộc ông C phải trả lại phần đất trồng cây lâu năm thuộc chỉ giới 2,3,26,2 có diện tích 6,8 m² cho vợ chồng bà V, ông H và ông C, bà H1 phải tháo dỡ để trả lại hiện trạng đất ban đầu quan điểm của vợ chồng ông C không đồng ý vì diện tích đất 6,8 m² đất trồng cây lâu năm là của vợ chồng ông C. Ông cũng không đồng ý tháo dỡ các tài sản trên đất. Về chi phí tố tụng đã quyết toán thì quan điểm vợ chồng ông bên nào sai thì bên đó phải chịu phần chi phí này. Ôgn C còn đề nghị trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị căn cứ quy định của Luật đất đai để vợ chồng ông có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm lại bìa đỏ sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Bà Dương Thị Hồng H1 trình bày như quan điểm của ông C.
  • - Chị Trần Thị Thu H3, anh Trần Quốc H2 và anh Trần Quốc H2 trình bày: Bà V và ông H là vợ chồng có 03 người con là Trần Quốc Đ, Trần Quốc H2, Trần Thị Thu H3. Ngoài những người con trên, bà V và ông H không có người con đẻ hay con nuôi nào khác. Về nguồn gốc thửa đất số 120, tờ bản đồ 5A mà gia đình chị đang sinh sống có diện tích là 1010 m² được cấp giấy chứng nhận ngày 09/11/1999 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị V là của hộ gia đình anh, chị gồm 05 thành viên gồm bà V, ông H, anh Ð, anh H2, chị H3, Đến ngày 23/4/2014, thửa đất này đã được cấp đổi giấy chứng nhận thể hiện đây là thửa đất số 256, tờ bản đồ 12 diện tích 1108 m². Về diện tích đất sau khi cấp đổi có tăng lên 98 m² so với năm 1999 theo anh, chị là do trước đo bằng tay nên không chính xác cao so với năm 2014 đo bằng máy móc nên có sự chênh lệch này. Về phần diện tích đất đang tranh chấp giữa gia đình anh, chị và gia đình ông C ở phần chỉ giới 2,3,26,2 có diện tích 6,8 m², hiện nay gia đình ông C đang xây dựng 01 công trình trên phần diện tích đất này là đất của hộ gia đình anh, chị. Nay đề nghị ông C phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên đất để trả lại đất cho hộ gia đình anh, chị. Do hiện nay chị H3, anh Đ và anh H2 bận công việc không thể thường xuyên đến tòa án tham gia tố tụng được nên anh, chị xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các buổi xem xét thẩm định, định giá tài sản, các phiên tòa xét xử ở tòa án nhân dân huyện Phù Ninh. Các văn bản tố tụng mà tòa án gửi cho bố mẹ anh, chị là bà V, ông H để bố mẹ anh, chị gửi cho anh, chị biết. Ngoài ra, anh, chị nhất trí với quan điểm của bà V, ông H nêu trên.

- Đại diện theo ủy quyền của UBND xã P là ông Hà Ngọc H4 trình bày:

Bà V, ông H đang là vợ chồng và có 03 người con là anh Đ, anh H2, chị H3. Ngoài ra, bà V và ông H không có con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác. Bà H1, ông C hiện đang là vợ chồng và có 02 người con là chị T, anh C1.

Theo bản đồ năm 1999 mà UBND xã P cung cấp cho Tòa án, tỷ lệ bản đồ 1/1000, đo thước ly cho thấy tại điểm giáp đường giao thông là 3 li (tương đương 3m), bản đồ năm 1999 là bản đồ lập theo dạng giấy, không phải là bản đồ số nên không có phần mềm lưu trữ bản đồ này. Theo bản đồ số đo đạc năm 2015 mà UBND xã P cung cấp tỷ lệ bản đồ là 1/1000 cho thấy tại điểm giáp đường giao thông có chiều ngang mặt đường là 6,45 m đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, chênh lệch giữa bản đồ đo đạc năm 1999 và bản đồ số đo đạc năm 2015 là 6,45m - 3m = 3,45 m. Hiện trạng sử dụng đất mà gia đình ông H, bà V và ông C, bà H1 là phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về phía chiều dài thửa đất theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C năm 2008 (từ điểm 3 - 4) là một đường thẳng nhưng phần cạnh trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi năm 2014 từ điểm 1 - 9 bị leo ra là không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu. Đối với việc chuyển quyền sử dụng đất giữa giữa gia đình ông H, gia đình ông C với người thứ 3 không thông qua UBND xã nên không nắm bắt được.

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của gia đình bà V: Hộ bà V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 có diện tích là 1010 m² cấp theo kê khai, việc cấp đất dựa theo bản đồ năm 1999. Quá trình sử dụng đất bà V, ông H sử dụng đất từ khi được cấp đất đến nay. Bản đồ số tại xã P được đo vẽ từ năm 2011, đến năm 2015 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P nghiệm thu đưa vào sử dụng và quản lý. Do vậy, việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông H, và V vẫn dựa vào bản đồ số để cấp.

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của gia đình ông C, bà H1 là của cụ K, cụ H5 tặng cho. Ban đầu là thửa đất số 10, tờ bản đồ 5a, diện tích 2380 m², sau đó cụ H5 tặng cho vợ chồng ông C 640 m² (trong đó có 100 m² đất ở, còn lại là đất vườn) vào ngày 19/3/2008. Đến ngày 21/3/2008 thì vợ chồng ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 640 m² tương ứng với phần tặng cho. Bản đồ số tại xã P được đo vẽ từ năm 2011, đến năm 2015 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P nghiệm thu đưa vào sử dụng và quản lý. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông C vẫn dựa theo bản đồ số. Quá trình sử dụng đất của vợ chồng ông C từ khi được cấp đất cho đến nay.

Lý do có sự chênh lệch diện tích giữa việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và cấp đổi là do đo đạc. Về diện tích 6,8 m² cấp lần đầu thuộc quyền sử dụng của gia đình ông C nhưng cấp đổi sang bìa hồng diện tích 6,8 m² lại nằm ở đất gia đình bà V. Ông H4 đề nghị xét xử vắng mặt.

Quan điểm của UBND xã P giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện P là ông Nguyễn Ngọc Q trình bày:

Theo như bản trích đo hiện trạng thửa đất của công ty cổ phần K1 thì phần đất đang tranh chấp giữa gia đình bà V và gia đình ông C có diện tích 6,8 m² (đất trồng cây lâu năm) có chỉ giới 2,3,26 đã được phía gia đình bà V, gia đình ông C thừa nhận. Hiện nay, phần diện tích đất này gia đình ông C đã xây dựng một số công trình trên đất thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án. Đối chiếu phần diện tích đất đang tranh chấp 6,8 m² với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu cho gia đình bà V ngày 09/11/1999, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C, bà H1 ngày 21/3/2008 cùng bản đồ địa chính thì thấy rằng phần diện tích đất tranh chấp 6,8 m² nằm trong phần đất của gia đình ông C, bà H1 và ranh giới giữa hai gia đình là một đường thẳng chứ không loe ra như hiện nay. Đoạn đường lên cổng nhà bà V trên bản đồ thể hiện mặt đường có chiều rộng từ 3-3,5m. Sau này, khi nhà nước có chính sách cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đất của gia đình bà V, gia đình ông C đã được đo đạc lại và đều đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kết quả đo đạc lại thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà V tăng lên, đất của gia đình ông C giảm đi. Đoạn đường cổng nhà bà V thể hiện mặt đường giáp với đường tránh lũ và giáp đất nhà ông C mặt đường rộng 6,45 m. Như vậy, phần diện tích đất tranh chấp 6,8 m² sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại nằm ở phần đất của gia đình bà V. Nguyên nhân dẫn đến thay đổi diện tích đất cấp lần đầu, cấp đổi là do đo đạc bản đồ địa chính. Việc đo đạc bản đồ gia đình bà V, ông C đều khẳng định không có ở nhà nên đơn vị đo đạc đã tự đo, do vậy là có sai sót khi đo đạc ở phần diện tích đất tranh chấp này. Quan điểm của ông Q đề nghị giải quyết theo pháp luật. Đối với việc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà V, ông C nếu có sai sót khi cấp đổi thì các hộ có trách nhiệm liên hệ với quan có thẩm quyền để thực hiện các nội dung theo quyết định của Tòa án. Ông Q đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh đã:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, khoản 1 Điều 236 luật đất đai 2024; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V, ông Trần Quốc H về việc: Đề nghị ông C phải trả lại 2,55 m cổng (tương ứng diện tích đất trồng cây lâu năm đo đạc thực tế 6,8 m² theo chỉ giới 2,3,26,2) cho bà V, ông H và yêu cầu đề nghị ông C, bà H1 phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất 6,8m² để trả lại hiện trạng đất ban đầu.

(Có bản trích đo hiện trạng thửa đất của công ty cổ phần K1 kèm theo bản án)

Bà V, ông H, ông C, bà H1 có quyền yêu cầu UBND huyện P thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi khi bản án của Tòa án có hiệu lực thi hành.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền đề nghị thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét lại vụ án theo đơn khởi kiện của ông, bà. Đề nghị tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của ông bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ông Trần Quốc C, bà Dương Thị Hồng H1 đều không nhất trí với kháng cáo của ông H, bà V. Đề nghị giữ nguyên bản án của cấp sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V.

Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V làm trong luật định, đơn hợp lệ được xem xét giải quyết.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXPT-DS ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa vào hồi 08 giờ ngày 24/01/2025 nhưng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa vào hồi 14 giờ ngày 24/02/2025; tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Quốc Đ, anh Trần Quốc H2 và chị Trần Thị Thu H3 đều đề nghị xét xử vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện P và đại diện theo ủy quyền của UBND xã P đều vắng mặt phiên tòa lần 2. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định theo khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguần gốc đất của gia đình ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V là do bố mẹ ông H là cụ Trần Quốc K và cụ Đoàn Thị H5 tách cho, ngày 09/11/1999, UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị V dựa theo bản đồ năm 1999, là thửa đất số 120, tờ bản đồ 5ª, diện tích 1010 m² (đất ở 300 m², đất LNK 710 m²).

Ngày 15/3/2012, bà V có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ngày 23/4/2014, UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà V, ông H theo đó thửa đất được cấp thay đổi là thửa đất số 256, tờ bản đồ 12, diện tích 1108 m² (đất ở 300 m², đất LNK 808 m²) đã tăng so với bản đồ năm 1999 là 98m2.

Đối với nguồn gốc đất của gia đình ông C là của cụ Đoàn Thị H5 tặng cho theo như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 27/6/2007 lập tại UBND xã P, ngày 21/3/2008 ông C, bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đó thửa đất được cấp là thửa số 152, tờ bản đồ 5ª, diện tích 640 m² (đất ở 100 m², đất LNK 540 m²). Ngày 15/3/2012, ông C có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ngày 23/4/2014, UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, bà H1 theo đó thửa đất được cấp là thửa đất số 243, tờ bản đồ 12, diện tích 589,3 m² (đất ở 100 m², đất LNK 489,3 m²), diện tích đất sau khi cấp đổi năm 2014 của gia đình ông C giảm 50,7 m² so với diện tích đất được cấp năm 2008. Căn cứ trích lục - sơ đồ đất thổ cư tháng 01 năm 2015 tên chủ sử dụng đất Trần Quốc K (bổ đẻ ông H, ông C), quyền sử dụng đất 2380 m² đã thể thể hiện thửa đất số 10, tờ bản đồ 5ª và trích lục bản đồ của thửa đất số 10, tờ bản đồ 5ª, loại bản đồ 299, tên người sử dụng đất Đoàn Thị H5 (mẹ đẻ ông H, ông C), sau này tách đất cho ông C, bà H1 một phần đã thể hiện rõ ranh giới ở phần đất tranh chấp giữa gia đình bà V, gia đình cụ K, cụ H5 là một đường thẳng và chiều dài phía cổng tiếp giáp đường giao thông không loe ra so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi cho bà V, ông H (hiện nay chỉ giới 1,2 = 6,45m). So sánh bản đồ năm 1999 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà V năm 1999 và ông C, bà H1 năm 2008 cùng trích lục bản đồ ngày 29/6/2007, biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 29/6/2007 (BL141-142), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C, bà H1 năm 2008 về phía chiều dài thửa đất ở phần đất tranh chấp tiếp giáp giữa gia đình bà V, gia đình ông C là một đường thẳng với bản đồ số được đo vẽ từ năm 2011 đến năm 2015 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P nghiệm thu đưa vào sử dụng, quản lý thì phần đất tranh chấp tiếp giáp giữa gia đình bà V, gia đình ông C không còn là một đường thẳng mà đã loe ra phía gia đình ông C. Như vậy, việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà V, gia đình ông C có sai sót so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu gia đình bà V vàông C cũng xác định khi đơn vị tư vấn tiến hành đo đạc không có mặt để chỉ mốc giới mà mãi sau này mới ký giáp ranh vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất.

- Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất cùng ngày 11/4/2011, tiến hành đo đạc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất tại thực địa của bà Nguyễn Thị V, ông Trần Quốc C thì bàn V, ông C đã ký xác nhận bản mô tả này. Tuy nhiên, việc ký kết cũng không đảm bảo chủ thể vì thiếu bà H1 (vợ ông C) và ông H (chồng bà V) và việc ký kết bản mô tả này cũng không đảm bảo vì khi đơn vị tư vấn tiến hành đo đạc không có mặt người sử dụng đất để chứng kiến đo đạc và chỉ mốc giới như chính phía nguyên và bị đơn thừa nhận.

Căn cứ bản trích đo hiện trạng thửa đất nhà ông C và ông H do công ty cổ phần K1 đo khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện hiện trạng mặt ngang điểm giáp đường giao thông ở phía cổng lên gia đình bà V có chỉ giới 1,2 = 3,98 m và 1',2' = 4,05 m, phía chiều dài thửa đất ở phần đất tranh chấp tiếp giáp giữa gia đình bà V, gia đình ông C là một đường thẳng là phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu và bà V, ông H cũng không thiếu mặt ngang ở vị trí cổng này so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999, bản đồ năm 1999. Mặt khác, mặt ngang đất nhà ông C, bà H1 theo đo đạc ở chỉ giới 2,3,4,5,6 = 24,12 m hoặc phần đã hiến 2',3',4,5,6 = 24,13 m cũng phù hợp tương đối so với mặt ngang trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2008 cho ông C, bà H1 24,2 m.

Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 04/4/2024 tại UBND xã P và Biên bản xác minh gày 06/8/2024 của Phòng Tài nguyên Môi trường huyện P đều thể hiện chênh lệch bản đồ đo đạc năm 1999 và bản đồ số năm 2015 là 3,45 m, hiện trạng sử dụng đất mà gia đình ông H, bà V và gia đình ông C, bà H1 là phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, về phía chiều dài thửa đất theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C năm 2008 (từ điểm 3-4) là một đường thẳng nhưng phần cạnh trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi năm 2012 từ điểm 1-9 bị loe ra là không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu và xác định phần diện tích đất tranh chấp 6,8 m² trước khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong phần đất của gia đình ông C, bà H1 và sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại nằm ở phần đất của gia đình bà V. Do vậy cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V, ông H là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V không được chấp nhận nhưng ông H, bà V là người cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, khoản 1 Điều 236 luật đất đai 2024; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

[2] Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V, ông Trần Quốc H về việc: Đề nghị ông Trần Quốc C phải trả lại 2,55 m cổng (tương ứng diện tích đất trồng cây lâu năm đo đạc thực tế 6,8 m² theo chỉ giới 2,3,26,2) cho bà V, ông H và yêu cầu đề nghị ông C, bà H1 phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất 6,8m² để trả lại hiện trạng đất ban đầu.

(Có bản trích đo hiện trạng thửa đất của công ty cổ phần K1 kèm theo bản án).

Bà V, ông H, ông C, bà H1 có quyền yêu cầu UBND huyện P thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi khi bản án của Tòa án có hiệu lực thi hành.

[3] Về chi phí tố tụng: Bà V, ông H phải chịu chi phí tố tụng là 13.900.000₫ (Mười ba triệu chin trăm nghìn đồng). Xác nhận, bà V và ông H đã nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận ông C, bà H1 đã nộp 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) tiền chi phí tố tụng và ông C đã nhận lại 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng.

Bà V, ông H có nghĩa vụ hoàn lại cho ông C, bà H1 số tiền chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.900.000đ (Tám triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

[4] Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà V, ông H.

[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị V không được chấp nhận nhưng ông H, bà V là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự;thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Phạm Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị V tranh chấp quyền sử dụng đất với Trần Quốc C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger