TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày 24/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Quân;
Bà Trần Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1989 tại Cao Bằng; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thành P, tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn S, sinh năm 1967 và bà Vương Thị Ka D, sinh năm 1968, bị cáo có vợ tên Nông Thị T1, sinh năm 1996; bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền sự: Không; tiền án: Không
Bị cáo tại ngoại bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/12/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn M - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị cáo Dương Văn T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ mà không cần phải thi sát hạch nên khoảng đầu năm 2015 Dương Văn T gặp và cung cấp thông tin cá nhân của mình cho một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) ở xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông để
2
người này làm giả cho T một giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.200.000 đồng. Khoảng giữa năm 2015, T đến nhà người đàn ông trên nhận một giấy phép lái giả hạng A1 số [...], mang tên Dương Văn T, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, bị cáo T trả cho người này 1.200.000 đồng, T cất giấy phép lái xe hạng A1 để tham gia giao thông đường bộ. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/11/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 48D1-327.12 đi trên đường Đ, thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông-Trật tự cơ động Công an huyện P yêu cầu dừng xe kiểm tra do T điều khiển xe không đội mũ bảo hiểm. Lúc này, T xuất trình giấy phép lái xe giả mà T đặt mua cho lực lượng chức năng làm việc. Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm đối với T và tạm giữ giấy phép lái xe của T để làm thủ tục xử phạt hành chính. Đội Cảnh sát giao thông phát hiện giấy phép lái xe của T có dấu hiệu nghi ngờ giấy tờ giả nên chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số [...], hạng A1, họ tên “Dương Văn T”, sinh ngày 27/9/1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Kết luận giám định số 2705/KL-KTHS (TL) ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số [...] hạng A1, họ tên “Dương Văn T", sinh năm 1987, nơi cư trú: Xã Đ, huyện N, tỉnh Cao Bằng, đề ngày 25/6/2015 (ký hiệu A) là giả.
Cáo trạng số 148/CT-VKSPG ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Văn T số tiền từ 30.000.000₫ đến 40.000.000₫.
* Về xử lý vật chứng: Một “Giấy phép lái xe” (PET) số [...], hạng A1, họ tên “Dương Văn T”, sinh ngày 27/9/1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất bản truy tố đối với bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về bản luận tội đối với bị cáo T thống nhất vì lời khai bị cáo phù hợp với chứng cứ có trong hồ
3
sơ vụ án. Kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, gia đình thuộc hộ nghèo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Dương Văn T: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn T trình bày: Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ, khoảng năm 2015, bị cáo cung cấp giấy chứng minh nhân dân thuê người khác làm giả một giấy phép lái xe hạng A1, số [...] hạng A1, họ tên “Dương Văn T”, sinh năm 1987, nơi cư trú: Xã Đa Thông, huyện N, tỉnh Cao Bằng, đề ngày 25/6/2015 với giá 1.200.000đ. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/11/2022, khi bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 48D-327.12 lưu thông trên đường Đ, thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương bị Đội Cảnh sát giao thông -Trật tự cơ động Công an huyện P lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính với lỗi điều khiển xe không đội mũ bảo hiểm. Bị cáo xuất trình giấy phép lái xe giả nên bị khởi tố về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
[3] Như vậy, Cáo trạng số 148/CT-VKSPG ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Bị cáo biết việc sử dụng giấy phép lái xe giả là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm trốn tránh sự kiểm tra của Cảnh sát giao thông, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, gây ảng hưởng xấu đến tỉnh hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự.
4
Do đó, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cũng xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
[7] Xét lời bào chữa của Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị cáo Dương Văn T là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Đối với đối tượng có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau nên HĐXX không đề cập đến.
[9] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) “Giấy phép lái xe” (PET) số [...], hạng A1, họ tên “Dương Văn T”, sinh ngày 27/9/1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn T số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
3. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
5
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 (Một) “Giấy phép lái xe” (PET) số [...], hạng A1, họ tên “Dương Văn T”, sinh ngày 27/9/1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/02/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương văn T phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
