TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/DSPT
Ngày: 21/02/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh | |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Thu Phương |
| Bà Đào Thị Thu Thuỷ | |
| - Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. | |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên. | |
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 126/2024/TLPT-DS ngày 27/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 16a/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 128/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Ông Trịnh Đình T, sinh năm 1955
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa.
Bị đơn: 1. Ông Trịnh Đình C, sinh năm 1961
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Làng N, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Trương Minh T1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trịnh Đình T trình bày:
Ông T là anh trai ông C, bà T2 là em dâu ông. Nhà bà T2 có kinh doanh buôn bán ớt xuất khẩu. Do cần tiền vốn kinh doanh nên bà T2 và ông C có nhờ ông đi vay hộ tiền lãi để lấy vốn kinh doanh. Vì tình cảm anh em nên ông đã vay hộ cho bà T2 và ông C số tiền 1.500.000.000đ, lãi suất 2,84%/1 tháng.
Ngày 19/01/2021 ông đưa cho bà T2 và ông C số tiền 1.500.000.000₫ với lãi suất 2,84%/1 tháng. Tiền lãi mỗi tháng là 42.600.000đ. Tuy nhiên, ông xin bớt người vay 100.000₫ nên mỗi tháng còn 42.500.000đ. Tiền lãi được trả 6 tháng 01 lần. Khi đưa tiền cho bà T2 hai bên làm giấy vay tiền với nội dung như trên.
Đến ngày 19/7/2021 (Dương lịch) bà T2 lên nhà ông trả tiền. Bà T2 tính tiền lãi của 6 tháng là 255.000.000₫ (1.500.000.000 x 2.84% x 6 tháng) bà T2 ghi vào trong sổ của ông nhưng không trả tiền lãi. Khi đó, bà T2 mang đến đưa cho ông 150.000.000đ bà T2 ghi vào sổ của ông là trừ vào tiền gốc, còn tiền lãi bà đề nghị trả sau. Do đó số tiền gốc còn lại từ ngày 19/7/2021 là 1.350.000.000đ. Đến ngày 19/01/2022 (Dương lịch) bà T2 tính cả gốc và lãi số tiền nợ của ông là 1.821.000.000 đồng. Từ đó đến nay ông đã đến nhà hỏi rất nhiều lần nhưng bà T2 và ông C không chịu trả tiền cho ông. Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện bà T2 và ông C ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Định để nhờ quý Tòa giải quyết buộc bà T2 và ông C phải trả cho ông.
Do lãi suất khi ông vay bên ngoài cho bà T2, ông C là 2,84%/1 tháng là cao, nên sau đó ông phải thế chấp nhà đất của ông cho Ngân hàng để vay tiền với lãi suất thấp. Từ đó đến nay ông phải đảo sổ đi đảo sổ lại nhiều lần, mất rất nhiều chi phí. Do vậy, ông sẽ tính tiền lãi theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng là 1,5% 1 tháng. Tiền lãi cụ thể như sau:
- Tiền gốc còn lại tính đến ngày 19/7/2021 là 1.350.000.000₫.
- Tiền lãi từ khi vay đến nay bà T2 và ông C chưa trả cho ông. Tiền lãi được tính như sau:
Từ ngày 19/7/2021 đến ngày 14/8/2024 là 36 tháng 25 ngày
1.350.000.000₫ x 1.5% x 36 tháng 25 ngày = 745.875.000đ.
Cộng cả gốc và lãi thành 1.350.000.000đ + 745 875.000đ = 2.095.875.000₫ (Hai tỷ, không trăm chín lăm triệu, tám trăm bảy lăm nghìn đồng). Số tiền lãi ông yêu cầu sẽ được tính tiếp theo từ ngày 15/8/2024 cho đến khi xét xử và thanh toán xong khoản nợ trên.
2. Các bị đơn là bà Nguyễn Thị T2 và ông Trịnh Đình C (ủy quyền cho bà T2) trình bày:
Do ông Trịnh Đình T là anh trai của chồng bà là Trịnh Đình C, bà là em dâu của ông T. Do cần tiền vốn để kinh doanh nên ngày 19/01/2021 vợ chồng bà có vay ông T số tiền 1.500.000.000đ, lãi suất 2,84%/ tháng, tiền lãi mỗi tháng là 42.500.000đ. Ngày 19/7/2021 bà có trả 150.000.000đ tiền gốc cho ông T. Vì trước đó ông Tâm T3 lãi suất 2,84% quá cao so với quy định. Sau đó ông T đã tính lãi suất quá hạn theo Ngân hàng là 1,5% /1 tháng. Vì vậy, lãi suất được tính là 1,5%/1 tháng. Từ ngày 19/7/2021 đến ngày 14/8/2024 là 36 tháng 25 ngày.
1.350.000.000₫ x 1,5% x 36 tháng 25 ngày = 745 875.000₫.
Cộng cả gốc và lãi thành 1.350.000.000đ + 745.875.000₫ = 2.095.875.000đ (Hai tỷ, không trăm chín lăm triệu, tám trăm bảy lăm nghìn đồng). Bà chấp nhận trả cho ông T số tiền 2.095.875.000đ (Hai tỷ. không trăm chín lăm triệu, tám trăm bay lăm nghìn đồng). Nhưng vì điều kiện làm ăn thua lỗ nên số tiền còn lại bà chưa trả được, bà đề nghị ông T cho bà thời gian để bà làm ăn và trả nợ sau. Bà đề nghị chưa tính lãi, khi nào trả gốc thì sẽ tính lãi.
3. Bản án dân sự sơ thẩm số 16a/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá đã Quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đình T.
Buộc ông Trịnh Đình C và bà Nguyễn Thị T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Trịnh Đình T số tiền nợ gốc là 1.350.000.000đ, tiền lãi 774.225.000đ. Tổng cả gốc và lãi là 2.124.225.000₫ (Hai tỷ, một trăm hai bốn triệu, hai trăm hai lăm nghìn đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bà T2 và ông C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận là 1,5%/tháng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, Luật Thi hành án dân sự, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 06/11/2024, Tòa án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của ông Trịnh Đình C kháng cáo bản án sơ thẩm với các nội dung: Ông C không được nhận bất kỳ thông báo nào của Tòa án liên quan đến vụ án, ông cũng không ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2 tham gia tố tụng tại Tòa án. Bản thân ông C không liên quan đến việc vay tiền giữa bà T2 và ông T, đây là khoản nợ riêng của bà T2, ông C không đồng ý với quyết định của bản án về việc buộc ông cùng bà T2 phải trả nợ cho ông T số tiền 2.124.225.000₫ .
5. Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
Bị đơn là ông Trịnh Đình Cầm G nguyên nội dung kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án:
Các nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Định C1 là có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Đình C;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 16a/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hoá.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đình T.
Buộc bà Nguyễn Thị T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Trịnh Đình T số tiền nợ gốc là 1.350.000.000đ, tiền lãi 774.225.000đ. Tổng cả gốc và lãi là 2.124.225.000₫ (Hai tỷ, một trăm hai bốn triệu, hai trăm hai lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chậm trả.
Về án phí: Ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trịnh Đình C nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Ông C đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét nội kháng cáo của ông Trịnh Đình C:
- Về nội dung ông C không được nhận bất kỳ thông báo nào của Tòa án liên quan đến vụ án, ông cũng không ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2 tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.
HĐXX nhận thấy: Ông Trịnh Đình C trình bày ông đã chuyển vào Gia Lai sinh sống và làm việc từ năm 2023. Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh nơi cư trú, làm việc hiện nay của bị đơn. Tại Giấy xin xác nhận ngày 22/5/2024 của ông Trịnh Đình T, UBND xã Đ chỉ xác nhận ông Trịnh Đình T có hộ khẩu thường trú tại địa phương, không xác nhận nơi cư trú của bà T2, ông C.
Tại các biên bản giao nhận Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án huyện Y cho ông Trịnh Đình C thể hiện nơi giao nhận tài liệu là Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định và bà Nguyễn Thị T2 là người nhận thay.
Tại Giấy ủy quyền ghi tên Trịnh Đình C không có ngày tháng năm ủy quyền, nội dung ủy quyền cho bà T2 là giải quyết công việc liên quan đến các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Yên Định. Giấy ủy quyền này không có công chứng, chứng thực chữ ký của người ủy quyền.
Tại khoản 6 Điều 272 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm”.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà T2 khai giấy uỷ quyền này không phải do bà nộp trong vụ án này mà bà nộp trong vụ án khác tại Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá vì bà và ông C bị khởi kiện nhiều vụ án tại đây.
Từ các căn cứ trên thì giấy ủy quyền của ông C mà bà T2 giao nộp cho Tòa án không đúng quy định của pháp luật. Do đó việc ông C kháng cáo là có căn cứ.
- Về nội dung: Bản thân ông C không liên quan đến việc vay tiền giữa bà T2 và ông T, đây là khoản nợ riêng của bà T2, ông C không đồng ý với quyết định của bản án về việc buộc ông cùng bà T2 phải trả nợ cho ông T số tiền 2.124.225.000₫.
HĐXX nhận thấy: Tại Giấy nhận nợ ghi ngày 19/7/2021 có nội dung bà T2 nợ tiền ông T, không ghi mục đích vay tiền và chỉ có chữ ký của mình bà T2. Tại bản tự khai, bà T2 cũng thừa nhận việc bà có vay tiền ông T, do làm ăn thua lỗ nên chưa trả được nợ.
Như vậy, ông T không tham gia, không chứng kiến, không ký vào giấy nhận nợ cùng với bà T2. Ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc ông C2 biết việc bà T2 vay tiền của ông T. Đồng thời không có căn cứ để xác định việc bà T2 vay tiền nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình theo quy định tại Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà T2 thừa nhận đây là khoản nợ riêng của bà, không liên quan đến ông C; Ông T cũng đồng ý đây là khoản nợ do mình bà T2 đứng ra vay và ký nhận nợ, ông C không liên quan. Ông T đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà T2 có trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ cho ông.
Do đó xác định đây là khoản nợ riêng của bà T2 với ông T, ông C không phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ này.
[3] Về nghĩa vụ trả nợ: Tại Giấy nhận nợ ghi ngày 19/7/2021 có nội dung “Thím T2 nợ bác T một số tiền là: tổng lãi 255.000.000đ, gốc 1.350.000.000đ. Ngày 19/01/2022 dương lịch tổng cả lãi và gốc là 1.821.000.000đ”. Phía dưới có chữ ký, chữ viết Nguyễn Thị T2.
Tại bản tự khai bà Nguyễn Thị T2 khai “Tôi có vay của ông Trịnh Đình T số tiền là 1.350.000.000đ. Số tiền đó tôi đã trả được là 22.000.000đ. Vì điều kiện làm ăn thua lỗ nên số tiền còn lại tôi chưa trả được. Rất mong được Tòa án xem xét kéo dài thời gian để tôi làm ăn và trả nợ sau”.
Các bên đều thừa nhận hợp đồng vay có lãi, lãi suất thoả thuận 1,5% /tháng là không vượt quá quy định của Bộ luật dân sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định nợ gốc là 1.350.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 774.225.000đ. Tổng cả gốc và lãi là 2.124.225.000đ. Ông T và bà T2 đều xác nhận khoản tiền này và không thắc mắc gì.
Do đó buộc bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả số tiền trên cho ông Trịnh Đình T.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Đình C; Sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
[4]. Án phí sơ thẩm: Bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.484.500đ đối với số tiền phải trả nợ. Ông C không phải chịu án phí.
[5] Án phí phúc thẩm: Đương sự kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
- Chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Đình C.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 16a/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hoá.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đình T.
Buộc bà Nguyễn Thị T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Trịnh Đình T số tiền nợ gốc là 1.350.000.000đ, tiền lãi là 774.225.000đ. Tổng cộng là 2.124.225.000₫ (Hai tỷ, một trăm hai bốn triệu, hai trăm hai lăm nghìn đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 26/9/2024) bà T2 phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền gốc còn nợ với lãi suất là 1,5%/tháng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 74.484.500đ (Bảy mươi bốn triệu, bốn trăm tám mươi tư ngàn, năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Ông Trịnh Đình C không phải chịu án phí phúc thẩm; Trả lại cho ông Trịnh Đình C số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 000170 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 17/2025/DSPT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 17/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm
