Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan .
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan, ông Đinh Ngọc Phú.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/HSST ngày 10/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với các bị cáo:

1. Trần Thị Kim T, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A T, phường L, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M; Gia đình có 02 anh em, T là con thứ hai; Chồng là Phạm Xuân V, sinh năm 1991; Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/8/2024 chuyển tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

2.Nguyễn Đình Q, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: SỐ F T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Số A B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị H1; Gia đình có 02 anh em, Q là con thứ nhất; Vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993; Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 12/2025/HSST ngày 20/02/2025 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/8/2024 chuyển tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

3. Hà Duy T2, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A T, khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hà Duy T3 và bà Vũ Thị L; Gia đình có 02 chị em, T2 là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/8/2024, chuyển tạm giam ngày 22/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

4. Nguyễn Tuấn H2, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: SỐ H H, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Số D M, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Ngô Thị P; Gia đình có 02 anh em, H2 là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/8/2024, chuyển tạm giam ngày 22/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn H3, sinh năm 1985; Hiện cư trú: Hội Y, Chi Lăng N, T, Hải Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Lâm Hàm Y; Anh Trần Anh T5; Chị Phạm Hải Y1. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Kim T và Nguyễn Đình Q là bạn quen biết xã hội. Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 17/08/2024, T gọi điện cho Q qua ứng dụng zalo rủ Q cùng sử dụng ma túy Ketamine. Q đồng ý và bảo T chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để Q mua ma tuý. T dùng tài khoản số 0011004341510 của T mở tại Ngân hàng TMCP N1 chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản số 9907606989 của Q mở tại Ngân hàng TMCP N1 để Q mua ma túy. Lúc này, Q đang ăn tối cùng Hà Duy T2 nên Q rủ T2 cùng sử dụng ma túy và thoả thuận Q trả tiền mua ma tuý, T2 trả tiền thuê phòng khách sạn. T2 đồng ý. Sau đó, Q gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Tuấn H2 (là bạn của Q) để mua 02 túi ma túy Ketamine với số tiền 3.000.000 đồng. H2 đồng ý nên Q chuyển 1.500.000 đồng từ tài khoản số 9907606989 của Q đến tài khoản số 19038303880011 của H2 mở tại Ngân hàng TMCP K1 đồng thời Q hỏi vay T2 số tiền 1.500.000 đồng, T2 đồng ý. Q cho T2 số tài khoản của H2 để T2 chuyển tiền. T2 sử dụng tài khoản số 0341007224997 của T2 mở tại Ngân hàng TMCP N1 chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào số tài khoản trên của H2. Sau đó, T2 nhắn tin qua ứng dụng zalo rủ bạn là Phạm Hải Y1 đi chơi cùng, Y1 đồng ý.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi nhận được tiền của T2 và Q chuyển khoản đến, Nguyễn Tuấn H2 sử dụng số điện thoại 0988.111.xxx gọi đến số điện thoại 0936.865.xxx của người đàn ông không quen biết (hiện chưa xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua được 02 túi ma túy Ketamine với số tiền 2.400.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 34B2-921.64 (mượn của chị Nguyễn Thị Mai P1) đến khu vực ngã tư đường T, Điện Biên Phủ nhận B túi ma túy Ketamine và trả bằng tiền mặt 2.400.000 đồng. Sau đó, H2 liên lạc qua ứng dụng M2 bảo Q ra khu vực quán G đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương để nhận ma tuý.

Khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Q bảo T2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda SH 160i, màu đen, biển số 34AA-325.51 đến đón T chở ra đường Đ gặp H2 nhận ma tuý rồi gửi xe ở bãi giữ xe của Bệnh viện đa khoa tỉnh H để cùng Y1 đi taxi (không xác định được hãng xe và người điều khiển xe) đến khách sạn S. T2 vào gặp chị Lâm Hàm Y (là quản lý Khách sạn) thuê 02 phòng khách sạn và đặt cọc trước số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi T2 chuyển khoản thành công số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản số 21243817 của chị Y mở tại Ngân hàng TMCP Á thì chị Y đưa cho T2 02 thẻ từ khoá phòng 402 và 403. Sau đó, Q, T2, T và Y1 cùng vào phòng 403. Tại đây, Q đưa cho T2 02 túi ma túy, T2 đổ 01 túi ma túy lên trên mặt bàn kính rồi lấy thẻ phòng 403 để kẻ ma túy thành các đường nhỏ. Q lấy của T2 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng làm ống hút rồi đưa cho T2 sử dụng ma túy bằng hình thức hít vào cơ thể sau đó lần lượt Q, T và Y1 cùng sử dụng. Khi tất cả sử dụng hết thì T2 tiếp tục đổ một ít ma túy trong 01 túi thứ hai ra để mọi người sử dụng, phần thừa còn lại T2 để ở trên bàn. Sau đó, thấy không còn ai sử dụng ma túy nữa nên Q lấy túi ma túy Ketamine còn thừa trên để vào trong bao thuốc lá Vinataba của T2 nhưng không nói cho T2 biết. Sau khi sử dụng xong ma tuý, T2 mang theo bao thuốc bên trong có túi ma túy Ketamine cùng Y1 sang phòng 402 để ngủ còn Q và T ngủ tại phòng 403. Khoảng 01 giờ ngày 18/8/2024, Q mang ống hút làm từ tờ tiền 50.000 đồng về trước. Đến khoảng 01 giờ 10 phút cùng ngày, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H phối hợp với Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang thu giữ tại phòng 402 một vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2) cm bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng; tại phòng 403 một thẻ khóa từ. T2, T và Y1 khai nhận đó là gói ma túy K chưa sử dụng hết còn thẻ từ dùng để “xào” ma túy. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại Iphone 8 Plus, gắn sim số 0931868558; của T2 01 điện thoại Iphone 15 Promax, màu xám titan, gắn sim số 0969666383. Quá trình bắt quả tang có sự chứng kiến của anh Trần Anh T5 và chị Lâm Hàm Y.

Sau khi biết T2 và T bị bắt quả tang, hồi 08 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, Nguyễn Đình Q đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đầu thú và giao nộp 01 ống hút được cuộn bằng tờ P2 mệnh giá 50.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 10 PRO 5G, có gắn sim điện thoại số 0907.606.xxx và 0782121866. Hồi 14 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Tuấn H2 và thu giữ 01 điện thoại Iphone 12 Promax, có gắn sim điện thoại số 0988.111.xxx. Khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của H2, Q và T2, Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật gì. Ngày 20/8/2024, tại nhà xe của Bệnh viện đa khoa tỉnh H, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã quản lý 01 xe máy loại SH160i, sơn màu đen, có biển kiểm soát 34AA-325.51 do T2 gửi nhờ trông giữ.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 18/8/2024 đối với Hà Duy T2, Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q và Phạm Hải Y1. Kết quả: dương tính với chất ma túy loại Ketamine, Nguyễn Tuấn H2 âm tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 365/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H thể hiện: Các cục chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,365g là ma tuý, loại Ketamine; Chất bột màu trắng bám dính trên thẻ khoá từ phòng 403 là ma tuý, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng; Chất bột màu trắng bám dính trên tờ tiền polyme mệnh giá 50.000đ là ma tuý, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại Kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 31/8/2024, Phòng K2 Công an tỉnh H thể hiện: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Về vật chứng: Đối với 02 (hai) phong bì niêm phong số 365/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh H là mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu T1 (đựng 0,315 gam ma tuý loại Ketamine và 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá V1, 01 vỏ phòng bì) và T2 (01 thẻ khoá từ phòng 403 và 01 phòng bì); 01 điện thoại Iphone 8 Plus gắn sim số 0931868558; 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max, có gắn sim điện thoại số 0969.666.xxx; 01 điện thoại OPPO Reno 10 PRO 5G, có gắn sim điện thoại số 0907.606.xxx và 0782121866; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, có gắn sim điện thoại số 0988.111.xxx; 01 xe máy loại SH160i, sơn màu đen, có biển kiểm soát 34AA-325.51, số tiền 50.000 đồng hiện gửi tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSTPHD, ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Tuấn H2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh:
    • + Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2 phạm tội “Tổ chức sử dung trái phép chất ma túy”;
    • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt chính:
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2 (thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T2, Q).

    • + Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024);
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024);
    • + Xử phạt bị cáo Hà Duy T2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024);

    Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn H2.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H2 từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024);

    • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
    • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm điểm a, b, c khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông;
    • Tịch thu cho tiêu hủy 0,315 gam ma tuý loại Ketamine hoàn lại sau giám định, 02 (hai) phong bì niêm phong số 365/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh H ký hiệu T1, T2 và 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01 vỏ phòng bì ký hiệu M1, 01 thẻ khoá từ phòng 403, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2, 01 phong bì niêm phong số 169/KL-KTHS; các sim điện thoại vật lý số 0931.868.xxx, 0969666383, 0907606989 và 0782121866, 0988111489.

      Đề nghị nhà mạng viễn thông Mobifone thu hồi các số thuê bao di động 0931868558, 0907606989, 0782121866 và đề nghị nhà mạng Viettel thu hồi các số thuê bao di động 0969666383, 0988111489; Tịch thu số tiền còn lại trong các sim (nếu có).

      Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ.

      Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng số máy MQ8H2ZP/A, số seri: C39W647CJCLN của Trần Thị Kim T; 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max màu xám titan, số máy MU793VN/A, số seri: J62DL2K0FW của Hà Duy T2; 01 điện thoại OPPO Reno 10 PRO 5G, màu tím, kiểu máy CPH2525 của Nguyễn Đình Q, 01 điện thoại Iphone kiểu dáng 12 Promax màu xanh đen, số IMEI 1: 350002261853719, IMEI 2: 350002261851085 của Nguyễn Tuấn H2.

      Trả bị cáo Hà Duy T2 01 xe máy loại SH160i, sơn màu đen, có biển kiểm soát 34AA-325.51, số máy KFS7E0304596, số khung RLHKF4250PY101624 của Hà Duy T2.

      Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tuấn H2 600.000đ sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục thực hiện lệnh phong tỏa tài khoản số 465/LPT-ĐCSKT-MT ngày 15/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đối với tài khoản số 19038303880011 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K1 chủ tài khoản là Nguyễn Tuấn H2 để đảm bảo việc thi hành án.

      Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    [1]. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    [2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản làm việc, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 17/8/2024, Trần Thị Kim T rủ và chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng cho Nguyễn Đình Q để Q mua ma tuý về cùng sử dụng. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 17/8/2024, tại khu vực ngã tư đường T giao với đường Đ, phường P, thành phố H tỉnh Hải Dương, Nguyễn Tuấn H2 bán trái phép 02 túi ma tuý loại Ketamine cho Nguyễn Đình Q với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, trong khoảng thời gian từ 22 giờ 45 phút ngày 17/8/2024 đến 01 giờ 10 phút ngày 18/8/2024, tại phòng 403 khách sạn S, địa chỉ: Lô C, KĐT T, Đại lộ V, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy Thành T6 đã chuẩn bị chất ma túy, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy để cùng và chị Phạm Hải Y1 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H phối hợp với Công an phường T, thành phố H kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

    Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc và việc mua bán trái phép chất ma túy, cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để thực hiện việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo T, Q, T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Các bị cáo tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tình tiết định khung quy định tại điểm b “đối với hai người trở lên” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo H2 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Trần Thị Kim T là người rủ và chuyển tiền mua ma tuý cho Q; Q trực tiếp mua ma tuý và rủ T2 cùng sử dụng; T2 trả tiền thuê phòng, cung cấp tờ tiền 50.000 đồng làm công cụ sử dụng ma tuý; xào ma tuý cho các bị cáo và chị Y1 sử dụng nên đều đồng phạm với vai trò là những người thực hành tích cực. Như vậy T có vai trò cao nhất, tiếp đó đến Q, T2. Bị cáo H2 chịu trách nhiệm độc lập về hành vi bán trái phép chất ma túy.

    [3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Q ngày 20/02/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 12 tháng tù về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại Bản án số 12/2025/HSST, bản án này không xác định là tiền án đối với Q. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Q đầu thú, bị cáo T2 có bố đẻ là người có công với đất nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Cân nhắc tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

    [4]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

    [5]. Về vật chứng:

    • - Đối với 0,315 gam ma tuý loại Ketamine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 02 (hai) phong bì niêm phong số 365/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh H ký hiệu T1, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01 vỏ phòng bì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
    • - 01 thẻ khoá từ phòng 403 là công cụ dùng để xào ma túy, anh H3 không yêu cầu nhận lại và 01 phòng bì không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy;
    • - 01 điện thoại Iphone 8 Plus của bị cáo T; 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max của bị cáo Hà Duy T2; 01 điện thoại OPPO Reno 10 PRO 5G của bị cáo Nguyễn Đình Q, 01 điện thoại Iphone 12 Promax của bị cáo Nguyễn Tuấn H2 đều là công cụ, phương tiện để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
    • - Số tiền 50.000 đồng là công cụ để các bị cáo sử dụng ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
    • - 01 xe máy loại SH160i, sơn màu đen, có biển kiểm soát 34AA-325.51 bị cáo sử dụng đi lại hàng ngày không phải là công cụ phương tiện dùng vào việc tổ chức sử dụng ma túy nên cần trả lại các bị cáo T2.
    • - Đối với sim điện thoại số thuê bao 0931.868.xxx, 0969666383, 0907606989 và 0782121866, 0988111489 cần tịch thu cho tiêu hủy, đồng thời đề nghị nhà mạng viễn thông Mobifone có thẩm quyền thu hồi các số thuê bao di động 0931868558, 0907606989, 0782121866 và đề nghị nhà mạng Viettel thu hồi các số thuê bao di động 0969666383, 0988111489 và tịch thu số tiền còn lại trong sim (nếu có).
    • - Sau khi nhận số tiền 3.000.000đ từ Q, T2 chuyển khoản, H2 đã mua ma túy hết số tiền 2.400.000đ. Như vậy số tiền bị cáo H2 hưởng lợi từ việc bán ma túy mà có là 600.000đ cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do Công an thành phố H đã ra lệnh phong tỏa tài khoản của H2 nên cần tiếp tục thực hiện lệnh phong tỏa tài khoản của H2 để đảm bảo việc thi hành án.

    [6]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    [7]. Về vấn đề khác: Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tuấn H2 (không xác định được họ tên, địa chỉ sử dụng sim số điện thoại 0936.865.xxx để liên lạc) quá trình điều tra xác định chủ đăng ký số sim là Nguyễn Thanh T7, sinh ngày 22/10/1993, nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, anh T7 không đăng ký, không sử dụng sim số 0936.865.430; không quen biết và liên lạc với H2 để mua bán trái phép chất ma tuý; chị Nguyễn Thị Mai P1 không biết H2 mượn xe máy để đi bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.

    Đối với khối lượng 0,365g ma túy Ketamine thu được trong vỏ bao thuốc lá của T2 do Q cất vào để T2 sử dụng tuy nhiên T2 không biết. Chủ tịch U ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đối với chị Lâm Hàm Y thiếu trách nhiệm trong quản lý khách sạn để xảy ra việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý nên Chủ tịch U đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với chị Phạm Thị Y2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2; (thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2).

    Căn cứ khoản 1 Điều 251, điếm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn H2;

    Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    1. Về tội danh:
      1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
      2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H2 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
    2. Về hình phạt:
      1. Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024).
      2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 07 (bẩy) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024).
      3. Xử phạt bị cáo Hà Duy T2 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024).
      4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H2 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 18/8/2024).
    3. Về xử lý vật chứng:
      • Tịch thu cho tiêu hủy 0,315 gam ma tuý loại Ketamine hoàn lại sau giám định, 02 (hai) phong bì niêm phong số 365/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh H ký hiệu T1, T2 và 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01 vỏ phòng bì ký hiệu M1, 01 thẻ khoá từ phòng 403, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2, 01 phong bì niêm phong số 169/KL-KTHS; các sim điện thoại vật lý số 0931.868.xxx, 0969666383, 0907606989 và 0782121866, 0988111489.
      • Đề nghị nhà mạng viễn thông Mobifone thu hồi các số thuê bao di động 0931868558, 0907606989, 0782121866 và đề nghị nhà mạng Viettel thu hồi các số thuê bao di động 0969666383, 0988111489. Tịch thu số tiền còn lại trong các sim (nếu có).
      • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ.
      • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng số máy MQ8H2ZP/A, số seri: C39W647CJCLN của Trần Thị Kim T; 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max màu xám titan, số máy MU793VN/A, số seri: J62DL2K0FW của Hà Duy T2; 01 điện thoại OPPO Reno 10 PRO 5G, màu tím, kiểu máy CPH2525 của Nguyễn Đình Q, 01 điện thoại Iphone kiểu dáng 12 Promax màu xanh đen, số IMEI 1: 350002261853719, IMEI 2: 350002261851085 của Nguyễn Tuấn H2.
      • Trả bị cáo Hà Duy T2 01 xe máy loại SH160i, sơn màu đen, có biển kiểm soát 34AA-325.51, số máy KFS7E0304596, số khung RLHKF4250PY101624 của Hà Duy T2.
      • Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tuấn H2 600.000đ sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục thực hiện lệnh phong tỏa tài khoản số 465/LPT-ĐCSKT-MT ngày 15/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đối với tài khoản số 19038303880011 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K1 chủ tài khoản là Nguyễn Tuấn H2 để đảm bảo việc thi hành án.

      (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 23/01/2025.).

    4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Trần Thị Kim T, Nguyễn Đình Q, Hà Duy T2, Nguyễn Tuấn H2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
    5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

    Nơi nhận:

    • - Bị cáo;
    • - Người có QLNVLQ;
    • - VKSND thành phố Hải Dương;
    • - VKSND tỉnh Hải Dương;
    • - Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Dương;
    • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
    • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
    • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
    • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
    • - Lưu hồ sơ vụ án.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Trần Thị Nhan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim T cùng đồng phạm - Tổ chức trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger