Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 21-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Liên
  2. Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST - HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị N. Tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/6/1975, tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân N1 (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị X (Đã chết); anh chị em ruột: Có 11 người, bị cáo là con thứ tám trong gia đình; chồng: Mã Duy S, sinh năm 1970; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/7/2024, Trần Thị N đi xe đạp đến xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An để nhặt ve chai. Trong lúc đang nhặt ve chai tại mương nước ở đường liên xã thuộc xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, N thấy có 01 (một) gói nilon màu đen được cột thắt nút lại, N nhặt lên mở ra thì thấy bên trong có các viên nén màu hồng bị ướt. Nhu biết đó là các viên ma túy hồng phiến vì bản thân đã từng sử dụng. N cầm lấy gói ma túy đưa về nhà rồi phơi lên bờ tường rào nhà mình. Sau khi các viên ma túy khô lại thì N bỏ vào 01 vỏ bao nilon màu vàng, tiếp đến là 01 mảnh giấy màu trắng, bên ngoài cùng là 01 vỏ bao nilon màu đen rồi đem cất trên nắp thùng tôn đựng lúa trong nhà kho ngay phía sau nhà ở của N để sử dụng dần. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/12/2024, N đi ra phía sau nhà kho lấy gói ma túy cầm ở tay chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Công an xã D, huyện D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do hoảng sợ nên N thả gói ma túy xuống nắp thùng tôn đựng lúa, tổ công tác đã niêm phong vật chứng và dẫn giải Trần Thị N về trụ sở Công an huyện D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 10/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Kết luận giám định số 999/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 16/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định:

  • Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Trần Thị N gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine.
  • Số viên nén màu hồng (25 viên) có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Trần Thị N có tổng khối lượng 2,7 g (Hai phẩy bảy gam).

Tại bản " \o "cáo"cáo trạng số: 14/CT-VKS-DC ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Trần Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, để xử phạt Trần Thị N từ 18 (Mười tám) tháng đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 2,2 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định hết 0,5 gam thu của Trần Thị N.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng của bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã D, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của C tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
  2. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 10/12/2024, tại nhà của Trần Thị N thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Công an xã D, huyện D phát hiện, bắt quả tang Trần Thị N đang có hành vi tàng trữ trái phép 25 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,7 gam là ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
  3. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi thực hiện của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vì thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có bố đẻ có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  4. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế, tài sản, thu nhập đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về vật chứng của vụ án:
    • 25 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,7 gam là ma túy Methamphetamine thu giữ của Trần Thị N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã lấy mẫu giám định gồm 05 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,5 gam để đi giám định hết, còn lại 20 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,2 gam là ma túy Methamphetamine. Là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 10/12/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký thành phần tham gia niêm phong, bị cáo Trần Thị N cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An, bên trong có chứa: 20 (Hai mươi viên) ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,2 gam (Hai phẩy hai gam), 01 (Một) vỏ bao nilon màu đen, 01 (Một) vỏ bao nilon màu vàng, 01 (Một) mảnh giấy màu trắng và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu.

    Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 16/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

  4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger