TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Đức T (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/02/1983 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Hà Đức T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị N, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1990. Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2011; con nhỏ sinh năm 2014);
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 28/HSST ngày 17/9/2004 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, Hà Đức T bị phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Chấp hành xong án phí ngày 05/9/2005. Hiện T chấp hành xong hình phạt, đã được xoá án tích.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Chị Phùng Thị N1, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Khu N, xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
2/ Cháu Lê Mỹ L, sinh ngày 13/10/2004;
Địa chỉ: Khu N, xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền cho cháu L: Chị Phùng Thị N1, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Khu N, xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ cháu L).
(Theo văn bản ủy quyền ngày 16/11/2024)
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 02/11/2024, Hà Đức T, sinh ngày 19/02/1983 ở khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ, biển kiểm soát 29F1-036.28 đi từ nhà đến xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Khi đi T mặc quần lửng, áo dài tay màu xanh, đeo khẩu trang màu đen, đi dép lê màu đen, đội mũ bảo hiểm và mang theo một mũ lưỡi trai nhiều màu có kẻ sọc. Đến khoảng 07 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi qua cầu T, T thấy cửa cổng và cửa chính nhà chị Phùng Thị N1, sinh năm 1978 ở khu N, xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ đang mở nên T nảy sinh ý định vào nhà chị N1 để trộm cắp tài sản. T dừng xe ở lề đường và tháo mũ bảo hiểm để ở xe, đội mũ lưỡi trai rồi đi vào sân, thấy nhà chị N1 không có ai ở nhà nên T đi vào phòng ngủ tại tầng 1, tại vị trí đầu giường bên trong phòng ngủ có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu trắng (bên trong lắp 01 sim), lắp 01 ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc, đang cắm dây sạc, T rút chiếc điện thoại trên khỏi dây sạc rồi cất vào túi quần trước bên trái quần T đang mặc. Sau đó, T đi ra phòng khách thì thấy trên bàn uống nước có 01 (một) chiếc ví màu đen, bên trong ví có 201.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu đỏ. T lấy số tiền 201.000 đồng ra khỏi ví, cất vào túi quần bên phải quần T đang mặc, lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO cất vào túi quần bên trái quần T đang mặc, còn ví T để lại bàn. Sau đó T đi ra vị trí để xe mô tô và điều khiển xe mô tô theo hướng về xã P. Khi đi đến khu vực gần cầu T, T dừng xe và lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, tắt nguồn và tháo sim vứt xuống mương ven đường và tiếp tục điều khiển xe mô tô theo hướng đi xã P. Khi đi đến địa phận xã S (P), huyện C, T dừng xe và lấy 02 chiếc điện thoại di động ra kiểm tra thì thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng hoạt động bình thường, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ không lên nguồn, T nghĩ điện thoại hỏng nên đã vứt chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO ở lề đường. T cất chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng vào túi quần bên trái quần T đang mặc và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Về đến nhà, T giấu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE trên vào tải rơm để ở chuồng gà gần bếp nhà T với ý định chờ một thời gian sau sẽ đem bán lấy tiền.
Ngày 13/11/2024, chị Phùng Thị N1 đã trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C. Đồng thời, Chị N1 tự nguyện giao nộp 01 (một) đoạn video trích từ camera an ninh của nhà chị N1 ghi lại hình ảnh có một nam thanh niên mặc quần lửng, áo dài tay màu xanh, đội mũ lưỡi trai nhiều màu có kẻ sọc, đeo khẩu trang. Cơ quan điều tra đã trích xuất file video lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD theo quy định pháp luật.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã triệu tập làm việc với Hà Đức T. Tại Cơ quan điều tra, T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân. Đồng thời, Hà Đức T tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, lắp 01 ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc và số tiền 201.000 đồng. Là tài sản T trộm cắp của nhà chị N1.
Ngày 14/11/2024, Hà Đức T tự nguyện giao nộp: 01 (một) áo dài tay màu xanh; 01 (một) quần lửng màu xám có kẻ chìm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu không có kính; 01 (một) đôi dép lê màu đen; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) mũ lưỡi trai nhiều màu có nhiều kẻ sọc; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ, đã cũ, biển kiểm soát 29F1-036.28. Là trang phục T mặc và xe mô tô T điều khiển khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Cơ quan điều tra cho Hà Đức T xác định hiện trường T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (tại nhà chị N1), xác định nơi T vứt sim điện thoại lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE và xác định nơi T vứt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO. Đồng thời, Cơ quan điều tra tổ chức tìm kiếm chiếc sim điện thoại và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO nêu trên nhưng không có kết quả.
Ngày 14/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C định giá giá trị các tài sản: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 vỏ màu đỏ, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 vỏ trắng, đã cũ; 01 (một) ốp điện thoại di động IPHONE 11 nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 69 ngày 14/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đỏ, đã cũ có giá trị 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 vỏ trắng, đã cũ có giá trị 5.930.000 đồng (năm triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng); 01 (một) ốp điện thoại di động IPHONE 11 nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc có giá trị 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng).
Như vậy, tài sản Hà Đức T trộm cắp của gia đình chị Phùng Thị N1 gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 vỏ màu đỏ, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 vỏ trắng, đã cũ (bên trong lắp 01 sim), lắp 01 ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc và số tiền 201.000 đồng có tổng giá trị là 6.621.000 đồng (sáu triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Về các tài sản T trộm cắp, Cơ quan điều tra đã làm rõ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đỏ, đã cũ và số tiền 201.000 đồng là của chị Phùng Thị N1. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng (bên trong lắp 01 sim), lắp 01 ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc là của cháu Lê Mỹ L, sinh năm 2004 ở khu N, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (con gái chị N1). Ngày 16/11/2024, cháu Lê Mỹ L đã uỷ quyền cho chị Phùng Thị N1 tham gia tố tụng và giải quyết các vấn đề liên quan trong vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Đức T trình bày thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên, không có lời bào chữa nào khác.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSCK-HS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hà Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hà Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Đức T từ 21 (hai mươi mốt) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an huyện C nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hà Đức T cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Hà Đức T thay đổi nơi cư trú thì UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Bị cáo Hà Đức T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, Đ c Khoản 2, Điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo dài tay màu xanh; 01 (một) quần lửng màu xám có kẻ chìm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu không có kính; 01 (một) đôi dép lê màu đen; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) mũ lưỡi trai nhiều màu có nhiều kẻ sọc.
Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phùng Thị N1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, lắp 01 (một) ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc số tiền 201.000 đồng; đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ, đã cũ, biển kiểm soát 29F1-036.28 là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận:
Vào khoảng 07 giờ 25 phút ngày 02/11/2024, tại nhà chị Phùng Thị N1, sinh năm 1978 ở khu N, xã T (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng nhà chị N1 không có ai ở nhà, Hà Đức T đã có hành vi vào nhà trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 vỏ màu đỏ, đã cũ có giá trị 470.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 vỏ trắng, đã cũ (bên trong lắp 01 sim) có giá trị 5.930.000 đồng, lắp 01 (một) ốp điện thoại di động IPHONE 11 nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc có giá trị 20.000 đồng và số tiền 201.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản T trộm cắp là 6.621.000 đồng (sáu triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Hà Đức T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện và rèn luyện bản thân. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân đã từng bị kết án về tội chống người thi hành công vụ, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; tài sản trộm cắp đã giao trả lại cho gia đình bị hại, đồng thờ bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đã đủ giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
+ Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Hà Đức T phải thực hiện một số công việc lao động công ích để phục vụ cộng đồng là phù hợp.
+ Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng gì, cũng không có chức vụ nghề nghiệp nào ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, lắp 01 (một) ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc là của cháu Lê Mỹ L và số tiền 201.000 đồng là của chị N1 - là chủ sở hữu hợp pháp nên ngày 20/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại cho chị Phùng Thị N1 là phù hợp cần xác nhận.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ, đã cũ, biển kiểm soát 29F1-036.28 là tài sản chung của Hà Đức T và chị Nguyễn Thị Kim T2 (vợ bị cáo) là tài sản, phương tiện đi lại, đưa đón con đi học duy nhất trong gia đình. Chị T2 không biết việc T sử dụng xe mô tô trên liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Nên ngày 03/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T2 là phù hợp cần xác nhận.
- Đối với 01 (một) áo dài tay màu xanh; 01 (một) quần lửng màu xám có kẻ chìm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu không có kính; 01 (một) đôi dép lê màu đen; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) mũ lưỡi trai nhiều màu có nhiều kẻ sọc là của Hà Đức T. Tại phiên tòa bị cáo T đề nghị không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Phùng Thị N1 là chủ sở hữu hợp pháp và người đại diện theo ủy quyền của cháu L đã nhận lại số tiền 201.000 đồng, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, lắp 01 (một) ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc. Ngoài ra, chị N1 đề nghị Hà Đức T bồi thường 470.000 đồng là giá trị chiếc 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đỏ, đã cũ và 30.000 đồng là số tiền cháu L chi trả để làm lại sim điện thoại lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng mà T đã vứt. Tổng là 500.000 đồng. Hà Đức T đã bồi thường toàn bộ số tiền trên cho chị Phùng Thị N1, chị N1 không yêu cầu gì khác về bồi thường trách nhiệm dân sự là phù hợp cần xác nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Điều luật áp dụng:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Khoản 1, Đ c Khoản 2, Điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2] Về tội danh và mức hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hà Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Đức T 22 (Hai mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an huyện C nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hà Đức T cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Hà Đức T thay đổi nơi cư trú thì UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Bị cáo Hà Đức T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo dài tay màu xanh; 01 (một) quần lửng màu xám có kẻ chìm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu không có kính; 01 (một) đôi dép lê màu đen; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) mũ lưỡi trai nhiều màu có nhiều kẻ sọc của Hà Đức T.
(Vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê)
- Xác nhận ngày 03/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ, đã cũ, biển kiểm soát 29F1-036.28 là hợp pháp.
- Xác nhận ngày 20/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại cho chị Phùng Thị N1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, lắp 01 (một) ốp nhựa màu trắng có in hình 03 chiếc nơ buộc tóc và số tiền 201.000 đồng là chủ sở hữu hợp pháp số tiền và là người đại diện cho chủ sở hữu hợp pháp chiếc điện thoại là hợp pháp.
- Xác nhận bị cáo Hà Đức T đã bồi thường thiệt hại đối chiếc điện thoại OPPO A71 vỏ màu đỏ đã mất và tiền làm lại sim điện thoại cho chị Phùng Thị N1 (là chủ sở hữu hợp pháp chiếc điện thoại, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của cháu Lê Mỹ L) số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng chẵn) và chị L không bồi thường gì thêm.
[4] Về án phí: Bị cáo Hà Đức T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Hà Đức T có mặt được quyền kháng cáo; Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Thanh L1 | |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Đức Toàn
