|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-02-2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng
2. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T, Sinh năm: 1974; Thường trú: tổ A, phường H, quận T, TP .; Nơi ở: SN AN, phường V, quận T, TP ..(có mặt)
Bị đơn: Anh Hà Văn D, Sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng: phố T, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hà Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Vĩnh Phú (nay là xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 02/7/1993. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu C, xã P. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D rượu chè, không lo làm ăn, nhiều lần đánh đập chị, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Đỉnh điểm mâu thuẫn tháng 9/2005 chị và anh D sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai, anh D đi đâu chị không biết và không liên lạc. Đến năm 2018 thông qua gia đình chồng thì chị được biết anh D đã rời khỏi địa phương và mất liên lạc từ đó cho đến nay. Ngày 12/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra quyết định tuyên bố anh Hà Văn D mất tích. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Văn D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hà Đức G, sinh ngày 08/3/1994 và Hà Văn M sinh ngày 06/8/2002. Hiện nay hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hà Văn D đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 12/2024/QÐST-VDS ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng cho anh D tại gia đình, trụ sở UBND phường Đ và trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa nhưng hiện nay anh D vẫn chưa trở về địa phương và không có tin tức gì. Vì anh D không có mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của anh D.
Bà Nguyễn Thị C, là mẹ đẻ của anh Hà Văn D trình bày:
Anh Hà Văn D sinh năm 1971 là con trai là con trai thứ 4 của bà. Anh Dũng sau khi đi bộ đội ở Phú Thọ thì quen và kết hôn với chị Nguyễn Thị Minh T, có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới tại nhà chị T theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn anh, chị sinh sống hạnh phúc, có mâu thuẫn hay không thì bà không nắm bắt được vì anh chị ở xa. Về con chung: anh chị có 02 con chung là Hà Đức G, sinh ngày 08/3/1994 và Hà Văn M sinh ngày 06/8/2002. Về tài sản và công nợ: anh chị có tài sản gì hay nợ ai thì bà không nắm bắt được. Sau khi kết hôn thì anh chị sinh sống tại Phú Thọ, thỉnh thoảng về thăm quê và gia đình. Anh Dũng vẫn gọi điện cho bà, nhưng kể từ năm 2018 đến nay anh D không về thăm và cũng không gọi điện cho gia đình. Hiện nay anh D ở đâu thì bà không biết. Nay chị Nguyễn Thị Minh T có đơn ly hôn anh Hà Văn D, quan điểm của bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Về thời gian, điều kiện kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh D đúng như chị T trình bày. Từ năm 2018 đến nay, anh D bỏ nhà đi và vẫn chưa trở về địa phương, không có tin tức gì. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh D, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh D theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho chị T. Về con chung, anh chị có 02 con chung, hiện nay các cháu đã trưởng thành. Về tài sản, công nợ: chính quyền địa phương không nắm bắt được do anh chị sau khi kết hôn sinh sống tại Phú Thọ.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án xử cho ly hôn với bị đơn, về con chung, tài sản và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Điều 51; Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận đề nghị của chị Nguyễn Thị Minh T xin ly hôn anh Hà Văn D.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Hà Đức G, sinh ngày 08/3/1994 và Hà Văn M sinh ngày 06/8/2002. Hiện nay hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xem xét.
Về tài sản và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh T và bị đơn anh Hà Văn D là Tranh chấp về Ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hà Văn D đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật. Anh Hà Văn D đã được Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra quyết định tuyên bố mất tích. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; 228 BLTTDS để giải quyết vắng mặt anh Hà Văn D là phù hợp quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
* Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Minh T và anh Hà Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D rượu chè, không lo làm ăn, nhiều lần đánh đập chị, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Đỉnh điểm mâu thuẫn tháng 9/2005 chị và anh D sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai, anh D đi đâu chị không biết và không liên lạc. Ngày 12/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra quyết định tuyên bố anh Hà Văn D mất tích. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản theo quy định của pháp luật đối với anh Hà Văn D. Tiến hành xác minh tại địa phương và qua cung cấp của gia đình anh Hà Văn D thì sau khi bị tuyên bố mất tích đến nay, anh D cũng chưa trở về địa phương và không có tin tức gì. Xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Minh T và anh Hà Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D đã bị tuyên bố mất tích, nên áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp.
* Về con: Anh, chị có 02 con chung là Hà Đức G, sinh ngày 08/3/1994 và Hà Văn M sinh ngày 06/8/2002. Hiện nay hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét.
* Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
* Về công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51; Khoản 2 Điều 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh T.
Xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Minh T được ly hôn anh Hà Văn D.
2. Về con chung: Công nhận Hà Đức G, sinh ngày 08/3/1994 và Hà Văn M sinh ngày 06/8/2002 là con chung của chị T, anh D. Hiện nay hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét.
3. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số BLTU/24/0001731 ngày 10/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKSND TP. Thanh Hóa; - Các đương sự; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - UBND xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
