Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 20/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa

Ông Nguyễn Xuân Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - số C đường L, quận H, thành phố Đà Nẵng tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số: 02/2025/TB-TA ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn T (tên gọi khác: không). Sinh ngày 30 tháng 4 năm 2000, tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Trần Văn T1 (chết); Mẹ: Trần Thị V, sinh năm 1980. Gia đình có 04 anh, chị, em. Bị cáo là con đầu.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 14.7.2024, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa của bị cáo Trần Văn T: Ông Lê Ngọc Đ – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 40 ngày 03/4/2024, tại khu vực kiểm tra hải quan thuộc Cửa khâu Sân bay Quốc tế Đ, Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ1 nghi ngờ 02 kiện hành lý nhập khẩu từ Singapore của Trần Văn T (ga Cửa khẩu sân bay quốc tế Đ2) trên chuyến bay V970 có biểu hiện nghi vấn nên đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong 02 vali có chứa nhiều bao nilong, bên trong mỗi bao nilong có chứa nhiều tôm hùm giống nhưng Trần Văn T không

tiến hành thủ tục khai báo hải quan, không đăng ký kiểm dịch theo quy định nên Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ3 tiến hành tạm giữ tang vật và mời Trần Văn T về trụ sở làm việc. Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ3 đã yêu cầu Trần Văn T xuất trình các giấy tờ liên quan đến lô hàng nhưng Trần Văn T không xuất trình được.

* Tang vật bị tạm giữ: 60.000 cá thể nghi là tôm hùm giống (bảo quản tại Công ty TNHH X; địa chỉ: số B N, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, MST: 0402168524 theo đề nghị của Chi cục Thú y V1);

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Văn T;
  • - 01 hộ chiếu số E00169360 của Trần Văn T.
  • - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 30/11/2021;
  • - 01 vali màu xanh dương; 01 vali màu vàng nhạt.

* Kết quả điều tra vụ án:

Vào ngày 23/3/2024, Trần Văn T xuất cảnh từ Việt Nam sang Singapore qua Sân bay quốc tế Đ nhằm mục đích vận chuyển tôm hùm giống từ Singapore về Việt Nam. Trần Văn T khai: Nguyễn Thanh T2 (SN: 07.5.2000; trú thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) là bạn của T là người rủ rê Trần Văn T sang Singapore để vận chuyển tôm hùm giống về Việt Nam cho ông chủ của T2 (không rõ nhân thân lai lịch), với tiền công vận chuyển là 5.000.000 đồng. Sau khi đến Singapore, Trần Văn T được Nguyễn Thanh T2 đến đón và đưa về chung cư (không rõ địa chỉ) của Nguyễn Thanh T2 để ở. Đến ngày 02/4/2024, Nguyễn Thanh T2 thông báo đã có tôm hùm giống và yêu cầu Trần Văn T chuẩn bị vận chuyển về Việt Nam. Đến ngày 03/4/2024, Trần Văn T ra sân bay gặp hai người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, không rõ quốc tịch) nhận tôm hùm giống. Hai người này đưa cho Trần Văn T hai vali gồm: một vali màu xanh dương và một vali màu vàng nhạt bên trong chứa tôm hùm giống và số điện thoại: 0862.594.xxx để Trần Văn T liện hệ với người nhận tôm hùm giống khi xuống sân bay quốc tế Đ và nhận số tiền 5.000.000 đồng. Trần Văn T lên chuyến bay VJ970 để di chuyển từ Singapore về Việt Nam mang theo 02 vali tôm hùm giống.

Đến 14 giờ 40 phút ngày 03/4/2024, khi Nguyễn Văn T3 mang theo 02 vali tôm hùm giống đi qua khu vực kiểm tra hải quan thuộc Cửa khâu Sân bay Quốc tế Đ, nhưng không tiến hành thủ tục khai báo hải quan, không đăng ký kiểm dịch theo quy định thì bị Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ3 tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật và yêu cầu Trần Văn T xuất trình các giấy tờ liên quan đến lô hàng nhưng Trần Văn T không xuất trình được hóa đơn, chứng từ có liên quan.

Đến ngày 04/4/2024, sau khi làm việc với Chi cục Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ3, Trần Văn T mượn điện thoại của một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) liên hệ với Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thanh T2 cho số điện thoại (không nhớ rõ số chỉ nhớ có đuôi số 2.222) bảo Trần Văn T liên hệ với T1 (không rõ nhân thân, lai lịch), Trần Văn T liên hệ với T1 thì được T1 hẹn đến khu vực đường gần biển (không nhớ rõ địa chỉ) để gặp, T1 đưa cho Trần Văn T số tiền 5.000.000 đồng. Sau

đó, Trần Văn T bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ban hành Quyết định truy nã đối với Trần Văn T. Ngày 14/7/2024, Trần Văn T đến Công an xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú. Tại văn bản số 169/HDH ngày 05/4/2024 của V2 kết luận:

Ký hiệu lô mẫu Ký hiệu mẫu Thông tin giám định Thông tin đối chiếu với Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Lô mẫu 01 Mẫu 01 Tên khoa học: Panulirus Homarus. Tên tiếng Anh: Scalloped Spinny Lobster. Tên tiếng Việt: Tôm hùm đá. Thuộc loài được phép nhập khẩu, nuôi và buôn bán ở Việt Nam.
Mẫu 02 Tên khoa học: Panulirus Homarus. Tên tiếng Anh: Scalloped Spinny Lobster. Tên tiếng Việt: Tôm hùm đá.
Mẫu 03 Tên khoa học: Panulirus Homarus. Tên tiếng Anh: Scalloped Spinny Lobster. Tên tiếng Việt: Tôm hùm đá.

Tại văn bản số 288/TLKQ-TYV4-TH, ngày 06/04/2024 của Chi cục Thú y V1 kết luận: phát hiện 01/01 mẫu dương tính với vi rút bệnh đốm trắng 3 (WSSV).

Tại Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận:

TT Nội dung Thời điểm định giá Kết luận của hội đồng về giá trị tài sản (đồng)
1 Lô hàng tôm hùm (giống), có tên khoa học Panulirus Homarus; Tên tiếng Anh: Scalloped Spinny Lobster; Tên tiếng Việt: Tôm hùm đá, loài được phép nhập khẩu, nuôi và buôn bán ở Việt Nam, số lượng 60.000 con. Ngày 03.4.2024 4.800.000.000

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 201/CT-VKS-P1 ngày 28.11.2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Văn T về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt: Bị cáo Trần Văn T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 60.000 cá thể tôm hùm giống.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 vali màu xanh dương; 01 vali màu vàng nhạt.
  • + Trả lại bị cáo Trần Văn T: 01 Hộ chiếu số E00169360; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 30/11/2021.
  • + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác điều tra.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T - Luật sư Lê Ngọc Đ thống nhất về mặt tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo T. Luật sư cho rằng bị cáo T khi phạm tội còn có một phần nguyên nhân do nhận thức pháp luật còn hạn chế; trong quá trình điều tra, bị cáo T đã tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện tội phạm nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Ngày 17.02.2025, bà Trần Thị V (mẹ của bị cáo Trần Văn T) có Đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo gửi Tòa án nhân dân quận Hải Châu. Trong đơn có phần nội dung không tiếp tục mời Luật sư Hoàng Sáng T4 bào chữa cho bị cáo Trần Văn T trong giai đoạn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu và Tòa án các cấp. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T cũng trình bày ý kiến từ chối người bào chữa là Luật sư Hoàng Sáng T4. Căn cứ quy định tại Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấm dứt tư cách tố tụng của luật sư Hoàng Sáng T4. Luật sư Lê Ngọc Đ -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ là người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T trong vụ án này.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo, cũng như căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 03.4.2024, Trần Văn T lên chuyến bay VJ90 di chuyển từ Singapore về Việt Nam mang theo hai vali bên trong chứa 60.000 con tôm hùm giống có trị giá 4.800.000.000 đồng (các cá thể tôm hùm giống dương tính với virut gây bệnh đốm trắng (WSSV) nhập cảnh vào Việt Nam nhằm mục đích giao cho một đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) có số điện thoại 0862.594.xxx để hưởng lợi với số trên: 5.000.000 đồng. Khi qua khu vực kiểm tra hải quan, Trần Văn T không tiến hành thủ tục khai báo hải quan, không đăng ký kiểm dịch theo quy định thì bị Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Đ3 tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ tang vật và yêu cầu Trần Văn T xuất trình các giấy tờ liên quan đến lô hàng nhưng Trần Văn T không xuất trình được hóa đơn, chứng từ có liên quan. Hành vi trên đây của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 28.11.2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo như sau:

[4.1] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Do vậy, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

[4.2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ban hành Quyết định truy nã thì bị cáo đã đến Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú. Ngoài ra, gia đình bị cáo Trần Văn T là hộ nghèo tại địa phương, gia đình có truyền thống cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ được HĐXX xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét ý kiến của Luật sư bào chữa về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình, HĐXX xét thấy: Trong quá trình điều tra, bị cáo T cung cấp các lời khai có liên quan đến các đối tượng Nguyễn Thanh T2, Lê Anh T5. Tuy nhiên, lời khai giữa Trần Văn T và những đối tượng này còn nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết được, chưa đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ban hành Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ. Do đó, không có cơ sở để HĐXX chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một đến năm năm”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy, các bị cáo là lao động phổ thông, không có thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã thừa nhận trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội đã thu lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:

  • - Đối với 60.000 cá thể tôm hùm giống (bảo quản tại Công ty TNHH X): đã chết và được cấp đông theo các Biên bản chứng nhận của Chi cục Hải quan cửa khẩu Sân bay quốc tế Đ3, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 vali màu xanh dương; 01 vali màu vàng nhạt: là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 Hộ chiếu số E00169360; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 30/11/2021 là giấy tờ nhân thân của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác điều tra.

[8] Đối với đối tượng Nguyễn Đình H (chủ sở hữu số điện thoại 0862.594.xxx); Nguyễn Thanh T2, Lê Anh T5: Trần Văn T khai nhận Nguyễn Thanh T2 là người rủ T sang Singapore để vận chuyển tôm hùm giống từ Singapore về Việt Nam. Khi đến Việt Nam thì liên hệ 0862.594.xxx để giao hàng và nhận số tiền 5.000.000đ. Lê Anh T5 là người trả tiền công cho T 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay Nguyễn Đình H không có mặt tại địa phương, quá trình điều tra Nguyễn Thanh T2, Lê Anh T5 không thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai giữa Trần Văn T và Nguyễn Thanh T2, Lê Anh T5 có nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết được, Nguyễn Thanh T2 đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành đối chất để làm rõ vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 4048/QĐ-VPCQCSĐT ngày 19/11/2024 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi của các đối tượng có liên quan trong vụ án là phù hợp.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” .

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14.7.2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 60.000 cá thể tôm hùm giống (bảo quản tại Công ty TNHH X; địa chỉ: số B N, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng).
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 vali màu xanh dương; 01 vali màu vàng nhạt.
  • + Trả lại bị cáo Trần Văn T: 01 Hộ chiếu số E00169360; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 30/11/2021.
  • + Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác điều tra đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Văn T.

(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12.12.2024).

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

5. Án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Trại tạm giam CATP Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn Tphạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger