Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ - ST

Ngày 19 tháng 2 năm 2025

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
  • * Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Tư.
    2. Bà Nguyễn Thị Vượng.
  • * Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
  • * Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng S - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 (số thụ lý cũ của TAND huyện Yên Dũng: 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024) về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/1/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 106/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/2/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2004 (Có mặt)
  • ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở tạm: Thôn T, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
  • Cư trú: Thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 16/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 23/5/2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, tôi và anh T về chung sống với nhau tại gia đình anh T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 07/2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, hay cãi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ ngày 07/2024 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân thanh phố Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh T không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai ngày 21/11/2024 và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh thống nhất với chị Nguyễn Thị P về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn.

Trước khi kết hôn vợ chồng anh được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, anh và chị P về chung sống với nhau tại gia đình anh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống. Nay anh xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị Nguyễn Thị P.

Về con chung: Anh và chị P không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh đề nghị xét xử vắng mặt

Tại biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Phan Văn M – Trưởng thôn H, xã Đ cho biết: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn T là công dân địa phương. Chị P kết hôn với anh T năm 2023, sau khi kết hôn vợ chồng anh T, chị P sinh sống tại nhà bố mẹ anh T tại Thôn H, xã Đ. Quá trình chung sống, vợ chồng anh T, chị P phát sinh mâu thuẫn gì thì không nắm được. Đến tháng 11/2023 chị P bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng chị P, anh T ly thân từ đó đến nay.

Tại biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Nguyễn Văn T1 là bố đẻ anh T cho biết: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn T kết hôn năm 2023, sau khi kết hôn vợ chồng anh T, chị P sinh sống tại nhà ông tại Thôn H, xã Đ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến tháng 10/2023 gia đình thấy chị P thường xuyên đi chơi đêm. Đến tháng 11/2023 chị P bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị P ở huyện G sinh sống và vợ chồng chị P, anh T ly thân từ đó đến nay.

Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, khoản 3 Điều 144 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với anh Nguyễn Văn T nhưng vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
  2. [2] Về thẩm quyền: Ngày 04/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị P với bị đơn Nguyễn Văn T theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn T xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị P, anh T có thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau, nguyên nhân do vợ chồng chị P, anh T bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị P, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. [4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn T không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
  5. [5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  6. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn T không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005333 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang; Chị Nguyễn Thị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS Tp Bắc Giang;
  • - UBND xã Đồng Phúc
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Ánh Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ - ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị P xin ly hôn anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger