|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HSST |
Ngày: 18 – 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Mai Dức Danh
Ông: Lê Thế Hải
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hà Thị H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 25/01/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXX- ST, ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D – sinh năm 2001; CCCD: [...]; tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1977 và con bà Nguyễn Thị T – Sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/11/2024 đến ngày 20/11/2024 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Lê Thị P – sinh năm 1962 – vắng mặt
Địa chỉ: TDP H, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, liên quan trong vụ án: anh Cao Ngọc S – SN 1972 – có mặt
Địa chỉ: Số C Bà T, phường Đ, TP ., Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn D có nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi dọc theo tuyến QL1A tìm kiếm sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/11/2024, D đi bộ đến địa phận TK5, phường H, thị xã N, Thanh Hóa thì phátd hiện tại cửa hàng Đ có một xe mô tô BKS 36K9-1414, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha màu xanh của bà Lê Thị P có địa chỉ thường trú tại TDP H, phường H, thị xã N dựng ở cửa hàng, chìa khóa cắm ở ổ khóa xe nên D lợi dụng lúc không có người trông coi, quản lý xe nên đi bộ lại mở khóa xe nổ máy và điều khiển xe đi dọc QL1A theo hướng thành phố T và bán xe cho anh Cao Ngọc S trú tại số C Bà T, phường Đ, TP . với giá 500.000 đồng. Quá trình bán xe khi được anh S hỏi về nguồn gốc xe thì D nói xe mua của bạn, xe cũ lắm rồi, bị mất giấy tờ nhưng không làm lại nên anh S đồng ý mua.
Cùng ngày bà Phúc trình B sự việc mất xe đến CQĐT Công an thị xã N. Qua xác minh, Công an đã triệu tập D đến làm việc. Ngày 17/11/2024, D đã đến CQĐT Công an thị xã N đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐGTS ngày 18/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận:
- Xe mô tô BKS 36K9 – 1414, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha màu xanh đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/11/2024, có giá trị 03 triệu đồng.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 20/01/2025 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố Nguyễn Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm I, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 và Điều 38 BLHS. Khoản 5 Điều 328 BLTTHS.
- Xử phạt bị cáo từ 03 tháng 04 ngày tù. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô BKS 36K9-1414, đã được thu giữ trả lại cho bị hại, bị hại không có ý kiến gì nên đề nghị HĐXX không xét.
- Truy thu xung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng từ bị cáo.
- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
+ Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào lời khai của bị hại, người liên quan, bản kết luận định giá tài sản, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thừa nhận: Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện chơi game, không có nghề nghiệp, lang thang muốn có tiền tiêu xài nhưng không chịu lao động, sau khi phát hiện xe mô tô BKS 36K9 – 1414, không có người trông coi, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa nên bị cáo đã có hành động trộm cắp chiếc xe và đem bán được 500.000 đồng. Trị giá chiếc xe bị cáo trộm cắp là 03 triệu đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Cao Ngọc S khi mua xe không biết đây là xe do bị cáo trộm cắp được nên không cấu thành tội phạm.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3]. Xét tính chất vụ án: Tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản hợp pháp của con người đều được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ khả năng để nhận thức được điều này mà vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện bản chất con người lười lao động, muốn hưởng thụ trên công sức lao động của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại, ảnh hưởng đến trật tự an ninh trên địa bàn, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự an ninh nông thôn, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện.
[4]. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, mang tính chất ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân vì vậy khi lượng hình bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm I, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính nhân đạo của pháp luật.
Theo báo cáo của công an xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, không có nơi cưu trú rõ ràng, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không xác định nơi cư trú, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận bản thân là người nghiện game, thường xuyên lang thang nên xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tiền án, tiền sự không, tuổi đời còn trẻ, giá trị tài sản trộm cắp không đáng kể, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, trong thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo cũng nhận thức rõ về hành vi phạm tội của bản thân vì vậy cần áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được tính nhân đạo của pháp luật.
Tính đến thời điểm xét xử bị cáo đã bị tạm giam 03 tháng 04 ngày nên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xử mức hình phạt bằng thời hạn tạm giam cho bị cáo. Áp dụng khoản 5 Điều 328 BLHS trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Xét về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên nghĩ chưa cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS làm hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5]. Xét về phần Bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét.
- Đối với số tiền bán xe 500.000 đồng, anh S trả cho bị cáo. Do số tiền không nhiều nên anh S không yêu cầu bị cáo trả lại. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của anh S nên HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên số tiền 500.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu từ bị cáo để xung công quỹ nhà nước.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 và Điều 38 BLHS. Khoản 5 Điều 328 BLTTHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt: Nguyễn Văn D 03 tháng 04 ngày tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
- Về áp dụng các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47BLHS, truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 500.000 đồng xung công quỹ nhà nước.
- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
+ Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại. Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình ). Bị hại, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 17/2025/HSST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện chơi game, không có nghề nghiệp, lang thang muốn có tiền tiêu xài nhưng không chịu lao động, sau khi phát hiện xe mô tô BKS 36K9 – 1414, không có người trông coi, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa nên bị cáo đã có hành động trộm cắp chiếc xe và đem bán được 500.000 đồng. Trị giá chiếc xe bị cáo trộm cắp là 03 triệu đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
