|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/DS-PT Ngày 28 - 02 - 2025 Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn;
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2024/TLPT- DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2025/QĐ-PT ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Trần Thị K, sinh năm 1963;
- Ông Hà Văn D, sinh năm 1960;
- Đều trú tại: Ấp B, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Khổng Hoàng A, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Văn phòng L1 Vĩnh Phúc - số 32a, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Theo giấy ủy quyền ngày 11/7/2022); (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà K, ông D: Ông Phạm Tiến T - Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
Địa chỉ: Số C, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Hà Văn L, sinh năm 1955; (có mặt);
- Bà Trần Thị H2, sinh năm 1960; (có mặt);
- Ông Hà Văn H3, sinh năm 1957; (vắng mặt);
- Đều có địa chỉ tại: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người kháng cáo: Ông Khổng Hoàng A - đại diện nguyên đơn.
- Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Gia đình bà K trước đây sinh sống tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và được UBND huyện L cấp đất cho gia đình bà K ở cũng như canh tác, cụ thể:
Ngày 24/6/1998, gia đình bà K được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 936172, số vào sổ: 01147 QSDĐ/13 QĐ-UB (H) 1998, với tổng diện tích được cấp là 4.787m², bao gồm cả đất nông nghiệp và đất thổ cư. Trong đó, phần đất thổ cư của gia đình bà K có tổng diện tích là 1.080m² thuộc thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35 (trong đó đất ở 200m², đất vườn 880m²) ở địa chỉ khu A, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng năm 1995-1998 do điều kiện kinh tế khó khăn nên gia đình bà K đã phải đi làm kinh tế trong M, trước khi đi gia đình bà K đã nhờ ông Hà Văn H (là em con ông chú của vợ chồng bà K đang sinh sống tại địa phương) ở liền kề với gia đình bà K trông nom, quản lý đất đai nhà cửa giúp gia đình bà K khi gia đình bà K đi làm kinh tế xa quê. Tuy nhiên, trong quá trình trông nom ông H đã tự tháo dỡ ngôi nhà ba gian của gia đình bà K và hạ cốt mặt bằng lấy đất đem bán. Hiện nay ông H còn xây dựng một dãy công trình phụ trên đất của gia đình bà K. Hành vi này của ông H đã xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản và quyền sử dụng đất của bà K được pháp luật bảo vệ. Gia đình bà K đang có kế hoạch về quê sinh sống nên đã yêu cầu ông H trả lại đất để vợ chồng bà K sử dụng nhưng ông H không đồng ý. Nay bà K, ông D đề nghị Tòa án nhân dân huyện L buộc ông H tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất và trả lại quyền sử dụng đất 1.080m² thuộc thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35 địa chỉ: khu A xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị đơn ông Hà Văn H trình bày:
Ông có quan hệ với ông D chồng bà K là con ông bác còn ông là con ông chú. Nguồn gốc thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.080m² là của gia đình ông D, bà K đi miền N làm ăn đã chuyển nhượng cho gia đình ông từ năm 1995, khi đó đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi chuyển nhượng thỏa thuận giá là 7.000.000 đồng, khi ông D, bà K đi miền N thì ông trả trước 4.000.000 đồng, còn nợ lại 3.000.000 đồng. Vì lý do ông H4 anh trai ông D làm bếp, công trình phụ hết nên không có đường đi lên trên diện tích đất nhà ông D, bà K. Lúc đó ông có gọi ông H3 là anh ông D khi đó làm trưởng thôn đến để nói ông H4 không xây nữa và để đường đi cho gia đình ông nên từ đó gia đình ông không trả cho bà K, ông D 3.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng đất chỉ nói mồm với nhau không có viết giấy tờ gì, không ra chính quyền địa phương và ông nộp thuế từ năm 1995 đến khi được miễn thuế nộp cho trưởng thôn, từ khi ông H3 làm xong chuyển cho ông H5. Số tiền 3.000.000 đồng ông còn nợ từ năm 1995 cho đến nay bà K, ông D không đòi và gia đình ông cũng không trả. Năm 1998 bà K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không biết bà K hay ai làm. Khi nhận chuyển nhượng đất thì trên đất có nhà ba gian xây gạch và cây bạch đàn. Năm 2015, do nhà sập ông T1 xin đất đổ đường trục thôn xóm ông có cho đất và do nhà đổ nên cho máy múc đào luôn. Hiện nay ông làm chuồng gà trên đất còn không xây dựng hay trồng cây cối gì, còn lại cây bạch đàn là mầm chồi. Việc ông và bà K, ông D chuyển nhượng đất thì có bà H2, ông L, ông H3 biết còn khi trả tiền chỉ có hai vợ chồng ông trả trực tiếp cho ông D, bà K. Từ năm 1995 đến năm 2014 (hoặc 2015) thì việc đóng thuế nhà đất đối với diện tích đất ông mua của ông D, bà K do gia đình ông thực hiện. Lúc đó đóng cho trưởng thôn (ban đầu là ông H3, sau đó ông H3 nghỉ thì đóng cho ông H5). Tuy nhiên, đến nay do đã lâu gia đình ông không lưu giữ giấy tờ gì liên quan đến việc đóng thuế. Nay ông xác định diện tích đất đó ông đã nhận chuyển nhượng của ông D, bà K nhưng chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà K, ông D yêu cầu ông tháo dỡ công trình trên đất để trả lại đất ông không đồng ý vì ông đã mua của bà K, ông D và sử dụng ổn định từ năm 1995 đến nay.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1: Thống nhất nội dung ông H trình bày.
Người làm chứng ông Hà Văn L trình bày: Ông có quan hệ với ông D, ông H (bố ông D, bố ông và bố ông H là ba anh em trai). Khoảng cuối tháng 5/1995 ông D, bà K vào miền N làm ăn có chuyển nhượng cho ông H, bà H1 diện tích đất ở thôn N, xã T với giá 7.000.000đ, ông H đã trả 4.000.000đ, còn nợ lại 3.000.000đ từ đó cho đến nay. Khi mua bán chỉ nói miệng với nhau không có giấy tờ gì, thời điểm đó ông D, bà K còn làm cơm mời anh em ăn xong mới đi. Khi hai bên mua bán có đường đi từ diện tích đất xuống đường thôn xóm. Khi ông D, bà K đi thì ông H4 làm công trình phụ vào hết đường nên ông H có gọi ông D về giải quyết đường để trả nốt tiền nhưng ông D không về để giải quyết. Việc mua bán đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa thì ông không biết, khi bán trên đất có nhà ba gian và bếp nấu. Thời điểm xã làm đường liên thôn ông H có cho ông T1 là chủ công trình múc đất làm đường chứ không phải ông H bán đất. Lúc đó nhà trên đất bị mối đổ nát nên phá bỏ luôn. Hiện nay ông H làm chuồng gà chăn nuôi trên đất. Nay bà K yêu cầu ông H tháo dỡ công trình trả lại đất ông không đồng ý.
Người làm chứng bà Trần Thị H2 trình bày: Bà có anh em trong gia đình ruột thịt với ông H, ông D. Việc hai bên mua bán trao đổi đất như thế nào bà không biết chỉ được nghe ông H, bà H1 nói chuyện lại là nhận chuyển nhượng lại đất của ông D, bà K với giá 7.000.000đ và đã trả 4.000.000đ, còn lại 3.000.000₫ ông H bảo ông D về giải quyết đường đi để trả nốt nhưng ông D không về nên từ đó đến nay vẫn chưa thanh toán được. Khi bán đất trên đất có nhà ba gian và le bếp hiện nay đã phá do nhà lâu ngày hỏng. Năm 2015 xã có làm đường, ông H có cho múc đất để làm đường chứ không phải bán đất. Việc hai bên mua bán có giấy tờ hay không và trả như thế nào bà không biết. Nay bà K yêu cầu ông H, bà H1 tháo dỡ công trình trả lại đất cho bà H1, quan điểm của bà H2 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Hà Văn H3 trình bày: Ông có quan hệ họ hàng với ông H (ông H là con ông chú và ông là anh trai ông D chồng bà K). Nguồn gốc thửa đất của gia đình bà K, ông D là được UBND xã T cắm và không thu tiền. Trước năm 1995 trước khi ông D, bà K đi M thì ông D, bà K ở trên đất khi đó có ba gian nhà ngang, nhà bếp, chuồng trại chăn nuôi và trồng cây bạch đàn trên đất. Thời điểm đó đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 1998 theo chủ trương của nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trong xã, gia đình ông D, bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà K. Khoảng năm 1995 thì ông D, bà K đi miền N làm ăn. Việc mua bán đất hay cho mượn, cho thuê đất đối với ông H thì ông không được chứng kiến. Trước khi ông D, bà K đi có nhờ ông thu hai loại quỹ là thuế và thủy lợi của những gia đình có mượn đất nông nghiệp và đất ở, đất vườn của ông D, bà K thành một mối sau đó ông đi nộp cho thôn, xã đứng tên bà K là chủ hộ nộp, trong đó có gia đình ông H nộp đất ở, đất vườn và đất ruộng mượn của ông D, bà K cho đến khi nhà nước không thu thuế nữa. Khi ông D, bà K đi miền N vẫn để lại nhà và cây cối, đến năm 2015 thì thôn làm đường ông H có cho múc đất hạ cốt để lấy đất làm đường chứ không phải ông H bán đất. Khi đó nhà cũ nát nên ông H nhờ họ múc luôn. Hiện nay ông H đang làm lán nuôi gà trên đất của ông D, bà K. Việc ông H trình bày khi ông H4 xây bếp và công trình phụ vào đường đi vào nhà bà K, ông D, ông H có gọi điện cho ông là không đúng mà khi ông H4 làm sắp xong ông đi vào khu đấy chơi thì thấy ông H4 xây, ông có nói với ông H4 là sao lại xây vào đường cái nhà ông D, bà K, ông H4 bảo trước ông cho giờ ông bà đi miền N thì không cho nữa. Từ khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K thì ông vẫn nhận và giữ hộ từ đó cho đến năm 2022 thì ông trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K. Việc bà K, ông H mua bán, trả tiền đất cho nhau như thế nào ông không biết vì từ khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông vẫn giữ không thấy bà K nói đưa cho ông H hay đưa cho ai. Nay bà K yêu cầu ông H tháo dỡ công trình trả lại đất cho bà, ông H3 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra năm 1995-1996 ông nộp thuế cho ông M là trưởng khu, năm 1997-2000 thì ông làm trưởng khu thì ông thu và nộp cho xã.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS- ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K và ông Hà Văn D.
- Buộc ông Hà Văn H phải tháo dỡ, di dời tài sản trên thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để trả lại cho bà Trần Thị K, ông Hà Văn D diện tích 809,6m² đất (trong đó có 150m² đất ở và 659,6m² đất trồng cây lâu năm) (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 1).
- Buộc bà Trần Thị K, ông Hà Văn D phải thanh toán giá trị công sức trông nom duy trì thửa đất cho ông H 270,4m² đất (trong đó có 50m² đất ở và 220,4m² đất trồng cây lâu năm) nằm trong thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (được giới hạn bởi các điểm 3, B, C, A, 4, 3).
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án).
- Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03/10/2024 anh Khổng Hoàng A là đại diện hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận tính công sức trông nom đất cho ông H 50-60 triệu đồng tương ứng 270,4m² đất tại thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà K, ông D trình bày quan điểm: Không nhất trí nội dung bản án sơ thẩm chia đất cho ông H, vì quá trình trông nom đất mấy chục năm ông H đã được khai thác, sử dụng đất, tự ý tháo dỡ nhà của ông D, bà K, hạ cốt nền lấy đất sử dụng vào mục đích khác. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận tính công sức trông nom đất cho ông H 50-60 triệu đồng tương ứng 270,4m² đất tại thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định do đó được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguồn gốc thửa đất số 301, bản đồ số 35, diện tích 1.080m² tại khu A, xã T, huyện L (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Trần Thị K). Theo sổ địa chính thể hiện bà Trần Thị K là chủ sử dụng đất thửa số 301, tờ bản đồ số 35 diện tích 1.080m² (trong đó có 200m² đất ở và 880m² đất vườn). Như vậy, có cơ sở khẳng định nguồn gốc đất tranh chấp là của hộ bà K, ông D và bị đơn cũng công nhận.
Việc bà H1, ông H trình bày đã nhận chuyển nhượng lại thửa đất số 301, tờ bản đồ 35 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.080m² của bà K, ông D với giá 7.000.000đ. Khi bán thỏa thuận là 7.000.000đ, khi ông D, bà K đi M thì ông trả trước 4.000.000đ, còn nợ lại 3.000.000đ. Vì lý do ông H4 anh trai ông D làm bếp công trình phụ hết vào phần đất lối đi của thửa đất này, không có đường đi lên trên diện tích đất nhà ông D, bà K nên từ đó gia đình ông không trả cho bà K, ông D 3.000.000đ. Tại buổi hòa giải ở xã T, bà K cũng thừa nhận là chuyển nhượng cho ông D bà H1 thửa đất nêu trên với số tiền là 7.000.000đ nhưng ông H, bà H1 chưa trả tiền cho bà K, ông D. Ông H, bà H1 trình bày đã trả cho ông D, bà K 4.000.000đ, còn nợ lại 3.000.000đ nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc nhận chuyển nhượng đất và đã trả tiền. Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở xác định có sự chuyển nhượng đất và trả tiền giữa hai gia đình.
Gia đình bà H1, ông D đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước đối với thửa đất trên từ năm 1995. Mỗi năm 4,6kg thóc đến năm 2015 thì được miễn thuế. Xác minh việc nộp thuế sử dụng đất hàng năm của ông H bà H1 xác định ông H, bà H1 có nộp thuế sử dụng đất đối với thửa đất trên, việc nộp thuế sử dụng đất hàng năm chính là công sức duy trì tài sản. Hơn nữa ông H, bà H1 san gạt bằng phẳng mặt bằng đất, trông nom mấy chục năm. Do vậy bà K, ông D khởi kiện yêu cầu ông H trả lại thửa đất trên là có căn cứ nhưng cũng cần xem xét đến công sức duy trì, trông nom, cải tạo tài sản của ông H, bà H1 để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H bà H1 là phù hợp. Theo nguyện vọng của ông H, bà H1 muốn nhận công sức duy trì trông nom tài sản bằng hiện vật là đất, thực tế đất rộng nên cấp sơ thẩm chấp nhận công sức quy ra quyền sử dụng đất là công bằng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông H, bà H1 trình bày đồng ý bản án sơ thẩm chia cho ông H, bà H1 270,4m² đất (trong đó có 50m² đất ở và 220,4m² đất trồng cây lâu năm) nằm trong thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc vì diện tích này liền kề thửa đất của gia đình đang sử dụng. Nếu được chia đất như bản án sơ thẩm thì mặc dù thửa đất được chia 270,4m² đất không có lối đi nhưng cam đoan sẽ hợp thửa với thửa đất của gia đình để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ tự chịu trách nhiệm. Ông H, bà H1 cũng tự nguyện đồng ý tháo dỡ chuồng trại, bờ rào, chặt bỏ cây cối trên phần đất 809,6m² mà bản án sơ thẩm buộc trả lại cho bà K, ông D để trả lại mặt bằng phần đất đó cho bà K, ông D. Ông H và bà H1 đều trình bày trong mấy chục năm trông nom, cải tạo đất thì cả ông H và bà H1 đều có công nên đề nghị bà H1 cũng được hưởng công sức chứ không phải chỉ riêng ông H, do vậy cần xác định ông H và bà H1 đều được hưởng công sức trông nom, duy trì, cải tạo đất.
Từ những phân tích trên cho thấy bản án sơ thẩm buộc bà Trần Thị K, ông Hà Văn D phải thanh toán giá trị công sức trông nom, duy trì, cải tạo thửa đất cho ông H 270,4m² đất là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bên nguyên đơn không đưa ra được thêm tài liệu, chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm (Hội đồng xét xử điều chỉnh cách tuyên án cho dễ hiểu).
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị K và ông Hà Văn D phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, Tuy nhiên bà Trần Thị K và ông Hà Văn D là người cao tuổi và ngày 04/10/2024 có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà Trần Thị K và ông Hà Văn D.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của anh Khổng Hoàng A (là đại diện hợp pháp của bà Trần Thị K và ông Hà Văn D), giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Áp dụng Điều 166, Điều 175, Điều 176 và Điều 190 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Buộc ông Hà Văn H, bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho bà Trần Thị K, ông Hà Văn D quyền sử dụng diện tích 809,6m² đất (trong đó có 150m² đất ở và 659,6m² đất trồng cây lâu năm) nằm trong thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng bà Trần Thị K). Ông Hà Văn H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản (là chuồng trại, bờ rào...) và chặt bỏ cây cối trên diện tích 809,6m² đất nói trên để trả lại mặt bằng đất cho bà Trần Thị K, ông Hà Văn D. Thửa đất được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 1 trong sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án.
- Ông Hà Văn H, bà Nguyễn Thị H1 được sử dụng 270,4m² đất (trong đó có 50m² đất ở và 220,4m² đất trồng cây lâu năm) nằm trong thửa đất số 301, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng bà Trần Thị K). Thửa đất được giới hạn bởi các điểm A, B, C, 3, 4, A trong sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án.
- Đương sự có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản 14.278.000đ (xác nhận đã chi phí xong). Bị đơn ông H phải chịu 5.000.000đ chi phí xem xét thẩm định và định giá, đo đạc lại tài sản, xác nhận ông H đã nộp.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hà Văn H phải chịu 8.322.000đ (Tám triệu ba trăm hai mươi hai nghìn đồng).
- Bà Trần Thị K, ông Hà Văn D phải chịu 2.778.000đ được trừ số tiền tạm ứng án phí ông D, bà K đã nộp 22.200.000đ. Trả lại cho bà K, ông D số tiền 19.422.000đ theo biên lai thu số: 0006486 ngày 09/11/2022 của Chi cục Thi hành án huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trần Thị K và ông Hà Văn D.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Thành |
Bản án số 17/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Số bản án: 17/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DSPT Trần Thị K - Hà Văn H về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
