TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 18/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền
Ông Danh Hoàng Duyên
Ông Đoàn Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Hữu T
(Tên gọi khác: Đ), sinh ngày 03 tháng 08 năm 1989 tại H - Kiên Giang; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ E, khu phố D, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Hữu T1 (đã chết) và bà Tô Thị T2, sinh năm 1959; Vợ là Huỳnh Tố N, sinh năm 1987; Con ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Đào Thị Lệ T3 – Đoàn luật sư tỉnh K. (có mặt)
- Người bị hại: Ông Trần Lâm Anh K, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Mỹ T4, sinh năm 1983 (chị ruột của bị cáo) (có mặt)
Địa chỉ: Số B đường P, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Người làm chứng:
Bà Lê Vương Nhã T5, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số E đường L, tổ I, khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/9/2023, sau khi đi nhậu về Lê Hữu T hẹn gặp Trần Lâm Anh K tại quán C1 thuộc khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang để hỏi chuyện K còn nợ tiền của T 6.000.000 đồng, K hứa trả cho T mỗi tháng 3.000.000 đồng nhưng K không thực hiện mà tiếp tục hứa sẽ trả cho T mỗi tháng 2.000.000 đồng nên T không đồng ý dẫn đến hai người xảy ra cự cãi lớn tiếng với nhau, T tức giận đi vào nhà vệ sinh rửa mặt và lấy 01 cây dao xếp bật ra dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 08cm, cán dao màu đen dài khoảng 07cm trong túi quần bên phải đã chuẩn bị trước, bật lưỡi dao ra cầm trên tay phải đi từ nhà vệ sinh ra, đứng sau lưng của K đang ngồi, đâm liên tiếp 04 nhát trúng vào vùng vai trái của K, khi bị đâm, K đứng dậy chụp lấy cây dao trên tay của T, hai người giằng co qua lại ra đến ngoài đường, T cầm cây dao đâm thêm 03 nhát trúng vào vùng hàm - gò má trái, khuỷu trái và ngực trái của K thì K chống cự, bỏ chạy bị té ngã xuống đường, nhưng T vẫn không dừng lại mà tiếp tục xông lên, cầm cây dao đâm thêm 05 nhát trúng vào vùng lưng của K, K tiếp tục vùng vẫy, đứng dậy chạy vào trong quán cà phê House C thì được mọi người đưa K đến Trung tâm Y tế thành phố H cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh K điều trị cho đến ngày 02/10/2023 thì xuất viện.
Sau khi đâm Khoa xong, T điều khiển xe mô tô chạy về nhà, trên đường đi đến đoạn thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang thì T ném bỏ cây dao trên xuống Ao Sen rồi về nhà, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Hữu T về hành vi Giết người.
* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 824/KLTTCT-PY ngày 25/10/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K đối với Trần Lâm Anh K, sinh năm 1989, địa chỉ khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã kết luận:
Các kết quả chính:
Kết quả khám giám định:
+ Sẹo phần mềm vùng hàm - gò má bên phải, vai - cánh tay trái (2 vết), cánh tay trái (2 vết), khuỷu trái, lưng trái (3 vết), lưng phải (2 vết).
+ Thương tích vùng ngực trái, gây thủng cơ hoành trái, thủng thân vị dạ dày đã được phẫu thuật khâu cơ hoành trái, khâu lỗ thủng thân vị dạ dày và đặt dẫn khoang màng phổi, dẫn lưu hố lách. Hiện tại, còn sẹo xơ dày dính tại điểm dẫn lưu màng phổi trái.
+ Chấn thương phần mềm vùng gối và bàn chân 2 bên. Hiện tại, không thấy dấu vết thương tích do đả thương.
Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả CT - Scan ngực trái tái tạo 3D: Sẹo xơ dày dính tại điểm dẫn lưu màng phổi trái.
+ Xquang cột sống cổ thẳng, nghiêng; cánh tay trái thẳng, nghiêng; khuỷu tay trái thẳng, nghiêng: Không thấy hình ảnh bất thường.
+ Siêu âm bụng tổng quát: Không thấy hình ảnh bất thường.
Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể của Trần Lâm Anh K tại thời điểm giám định là: 57% (Năm mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định ở:
- Vùng hàm - gò má bên phải là: 03% (Ba phần trăm).
- Vùng vai - cánh tay trái (2 vết) là: 2,98% (Hai phẩy chín mươi tám phần trăm).
+ Vết 1: 01% (Một phần trăm).
+ Vết 2: 02% (Hai phần trăm).
- Vùng cánh tay trái (2 vết) là: 2,98% (Hai phẩy chính mươi tám phần trăm).
+ Vết 1: 01% (Một phần trăm).
+ Vết 2: 02% (Hai phần trăm).
- Vùng khuỷu trái là: 01% (Một phần trăm).
- Vùng ngực trái là: 49,32% (Bốn mươi chín phẩy ba mươi hai phần trăm).
- Vùng lưng là: 5,86% (Năm phẩy tám mươi sáu phần trăm).
Lưng trái (03 vết) là: 2,97% (Hai phẩy chín mươi bảy phần trăm).
+ Vết 1: 01% (Một phần trăm).
+ Vết 2: 01% (Một phần trăm).
+ Vết 3: 01% (Một phần trăm).
Lưng phải (2 vết) là: 2,98% (Hai phẩy chín mươi tám phần trăm).
+ Vết 4: 01% (Một phần trăm).
+ Vết 5: 02% (Hai phần trăm).
- Vùng gối 2 bên là: 00% (Không phần trăm).
- Vùng bàn chân 2 bên là: 00% (Không phần trăm).
2.3. Vật gây thương tích:
- Thương tích vùng ngực trái do vật có cạnh sắc, nhọn gây nên.
- Thương tích vùng hàm - gò má, vai, cánh tay trái (02 vết), cánh tay trái, khuỷu trái, lưng (05 vết) do vật có cạnh sắc gây nên.
- Vùng gối và bàn chân 2 bên không có dấu vết thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.
2.4. Về cơ chế hình thành thương tích:
- Thương tích vùng hàm - gò má bên phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ phải sáng trái so với trục giải phẫu cơ thể.
- Thương tích vùng ngực trái do vật có sắc nhọn tác động theo hướng từ trước ra sau và từ trên xuống dưới so với trục giải phẫu cơ thể.
- Thương tích vùng vai - cánh tay trái, cánh tay trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trái sang phải so với trục giải phẫu cơ thể.
- Thương tích vùng khuỷu trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước và trái sang phải so với trực giải phẫu cơ thể.
- Thương tích vùng lưng trái, lưng phải do vật có cạnh sắc tác động từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.
- Vùng gối và bàn chân 2 bên. Hiện tại, không thấy dấu vết thương tích do đả thương nên không có cơ sở kết luận cơ chế hình thành thương tích”.
* Tại bản Kết luận giám định số 1210/KL-KTHS ngày 12/11/2024
của Phòng K1 Công an tỉnh K đối với video clip USB chứa đựng một số thông tin diễn biến của vụ án vào ngày 19/9/2023 tại khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang được Cơ quan điều tra trích xuất từ camera cổng chính ngân hàng A hướng về nơi xảy ra vụ án (đã được niêm phong đúng qui định) kết luận như sau:
- Không tiến hành giám định 02 (hai) tập tin video "co y gay thuong tich 19 -9-2-2023 duy hoa.mp4 và “co y gay thuong tich 19-9-2023.mp4" do nội dung hình ảnh được phát trên một thiết bị khác và dùng phần mềm quay lại nội dung phát.
- Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung 02 (hai) tập tin video “ngan hang 5.mp4” và “ngan hang.mp4" gửi giám định.
- Đã trích xuất 06 (sáu) tập tin hình ảnh những người có mặt trong 02 (hai) video gửi giám định, chi tiết trong bản Phụ lục kèm theo.
- Kèm theo Kết luận giám định: Bản phụ lục gồm 03 trang A4.
* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, vật chứng trong vụ án:
- 02 (hai) chiếc dép da quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “DIOR” (đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây kim loại, màu bạc dạng khớp nối mắc xích (đã qua sử dụng).
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại số: VARIO, màu đen xanh, biển kiểm soát 68H1 - 216.46 (đã qua sử dụng). Trong quá trình điều tra, ngày 17/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Trần Lâm Anh K.
- Đối với 01 cây dao xếp của Lê Hữu T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra T khai nhận: Trên đường về nhà, T đã ném xuống A thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng kết quả không tìm thấy.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi phạm tội, gia đình bị cáo Lê Hữu T đã trả toàn bộ chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác theo yêu cầu của bị hại Trần Lâm Anh K với số tiền là 50.000.000 đồng. Hiện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSKG-P2, ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận:
Bị cáo Lê Hữu T và bị hại Trần Lâm Anh K có cự cãi với nhau về việc Khoa thiếu nợ T, từ đó dẫn đến T tức giận lấy 01 cây dao xếp bằng kim loại bật lưỡi dao ra đâm Khoa nhiều nhát vào vai trái, vào hàm gò má trái. Khi K bỏ chạy, bị vấp té ngã xuống đường T tiếp tục xông tới đâm thêm 05 nhát nữa vào lưng. Do K được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không chết mà bị thương tích theo kết luận giám định là 57%. Hành vi của Lê Hữu T đã phạm vào tội “Giết người” có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát có đủ căn cứ giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu T mức án từ 07 đến 08 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại bằng 50 triệu đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng đã thu giữ trong vụ án.
Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh bị cáo bị truy tố. Do hoàn cảnh bị cáo đang khó khăn, túng thiếu, phải nuôi mẹ già con nhỏ, cộng với việc K thiếu nợ không trả nên dẫn đến mất bình tĩnh, nhất thời gây án. Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động bồi thường cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo ra đầu thú sau khi phạm tội, từ đó đề nghị xử bị cáo mức án thấp nhất.
Ý kiến của bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày ý kiến xin lỗi đến bị hại, xin được giảm nhẹ hình phạt sớm trở về lo cho mẹ già và con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu T khai nhận: Bị cáo có hẹn gặp K hỏi về số nợ 06 triệu đồng Khoa thiếu nhưng K có lời lẽ lớn tiếng với bị cáo. Do bực tức K, bị cáo đi vào nhà vệ sinh lấy dao cán xếp trong túi quần, bật lưỡi dao ra đi lại chỗ K ngồi đâm K mấy nhát, K chụp dao, hai bên giằng co ra tới đường lộ, bị cáo không nhớ đã đâm K mấy nhát sau đó K chạy thoát được bị cáo lên xe về trên đường quăng dao bỏ.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai bị hại, lời người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Kết luận giám định vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích đều xác định các vết thương do vật sắc, nhọn gây nên, phù hợp với mô tả của bị cáo về hung khí gây án là dao cán xếp lưỡi bằng kim loại, khi bật ra có chiều dài khoảng 15 cm. Với số vết đâm đếm được là 12 vết trên người bị hại, trong đó vết thương ở vùng ngực trái, gây thủng cơ hoành trái, thủng thân vị dạ dày, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 57% thì việc bị hại không chết là nằm ngoài mong muốn chủ quan của bị cáo. Chỉ vì lời nói qua lại lúc đòi nợ, bị cáo đã sử dụng dao cán xếp có sẵn trong người đâm bị hại liên tiếp nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người như trên là đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” có tính chất côn đồ, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự nước C2 năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tội phạm mà bị cáo thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại là không lớn nhưng ý thức thực hiện tội phạm của bị cáo trong vụ án là rất quyết liệt. Cầm hung khí trên tay, bị cáo bất ngờ đến gần đâm liên tiếp vào người bị hại, trong đó vết đâm vùng ngực trái thủng cơ hoành, thủng dạ dày là vết thương hết sức nguy hiểm nếu không được cứu chữa kịp thời sẽ dẫn đến chết người. Hành vi này rõ ràng cho thấy ý thức chủ quan của bị cáo khi gây án là mong muốn tước đoạt mạng sống của người khác, bị hại không chết là nằm ngoài dự tính của bị cáo. Xét bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng quy định. Sau khi xem xét toàn diện vụ án, tình tiết bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải từ đó cần quyết định cho bị cáo một mức án tương xứng, có thời gian cách ly bị cáo với đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như nâng cao tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội có lên cơ quan Công an đầu thú, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cũng là phù hợp.
Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Về tội danh; hình phạt; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan điểm đề nghị của luật sư: Đề nghị của luật sư là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe Honda thu giữ đã giao trả lại cho Trần Lâm Anh K; các vật chứng khác không còn giá trị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về những vấn đề khác của vụ án: Đối với Lê Thị Mỹ T4 đã bồi thường thay cho bị cáo, không có ý kiến yêu cầu gì trong vụ án, nên không xem xét giải quyết gì liên quan đến quyền lợi của bà Mỹ T4.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Giết người”;
Xử phạt bị cáo Lê Hữu T 07 (bảy) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 13 tháng 12 năm 2023;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (hai) chiếc dép da quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “DIOR” (đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây kim loại, màu bạc dạng khớp nối mắc xích (đã qua sử dụng).
(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 03/QĐ-VKSKG-P2 ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Hữu T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Diệu Hiền |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu T - Giết người
