|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2025 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất Anh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Thanh Hòa
- Ông Võ Hoàng Ái
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân– Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 692/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tường V, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Ông Ngô Bình M, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 09/12/2024, biên bản hòa giải ngày 03/01/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/02/2025 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Tường V trình bày:
Bà và ông Ngô Bình M kết hôn năm 2003 và đã được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/2003 ngày 14/7/2003. Qua quá trình chung sống ông M và bà V có với nhau 02 con chung là Ngô Lê Anh T, sinh ngày 29/01/2004 và Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012. Cuộc sống hôn nhân của ông M và bà V không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính cách, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau và vợ chồng không còn chung sống với nhau đã gần 1 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Ngô Bình M.
Về con chung: Hiện nay con chung là cháu Ngô Lê Anh T, sinh ngày 29/01/2004 đã đủ tuổi thành niên nên bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với con chung là Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012 đang sinh sống với bà V nên bà V có nguyện được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà V không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Tường V xác định không có tài sản chung và nợ chung với ông M nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Ngô Bình M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; về con chung: Cháu Ngô Lê Anh T, sinh ngày 29/01/2004 đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Giao con chung là Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012 cho bà Lê Thị Tường V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông M không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 10/02/2025, nguyên đơn bà Lê Thị Tường V có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Ngô Bình M đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Ngô Bình M hiện cư trú tại: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tường V và bị đơn Ngô Bình M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/2003 ngày 14/7/2003 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời trình bày của bà Lê Thị Tường V trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà V không hạnh phúc do thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi vì tính tình hai bên không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên ông M và bà V không còn chung sống với nhau đã gần 1 năm nay. Như vậy, mục đích hôn nhân của ông M và bà V không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, việc bà V yêu cầu xin ly hôn ông Ngô Bình M là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà V thì vợ chồng có 02 con chung tên là Ngô Lê Anh T, sinh ngày 29/01/2004 và Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012. Con chung Ngô Lê Anh T, sinh ngày 29/01/2004 đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà V có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012 đến tuổi trưởng thành. Mặc khác, cháu N hiện đang sinh sống với với bà V và cháu N có nguyện được ở với bà V. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử xét nên giao con chung là cháu Ngô Lê Tâm N cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông M không cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có tài sản chung và nợ chung với ông M nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bà Lê Thị Tường V phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tường V.
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tường V được ly hôn ông Ngô Bình M.
- Về con chung: Giao con chung tên Ngô Lê Tâm N, sinh ngày 18/12/2012 cho bà Lê Thị Tường V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Bà V không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung
- Về án phí: Bà Lê Thị Tường V phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0006373 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Bà V đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhất Anh |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Tường V được ly hôn với ông Ngô Bình M
