TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 17/2025/HS-PT
Ngày 17 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Trung Tín
2. Ông Nguyễn Văn Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 187/2024/TLPT- HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số; 206/2024/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày: 18/11/1995 tại Khánh Hoà; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 243 đường L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nhân viên lễ tân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng Q1, sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm: 1963; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Q:
Ông Đào Thanh T – Luật sư Công ty L1 thuộc đoàn luật sư tỉnh K; Địa chỉ: D T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Q ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần V chi nhánh N3 từ ngày 14/7/2018, làm việc vị trí lễ tân tại khu vực tiền sảnh khu Quảng Trường của khu D & S với nhiệm vụ: làm thủ tục nhận và trả phòng cho khách; phục vụ khách lưu trú; quản lý chi phí phát sinh trong quá trình khách ở; cung cấp các dịch vụ khác như đổi tiền, giải đáp thông tin. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ ngày 06 đến ngày 18 tháng 02 năm 2019, Nguyễn Hoàng Q đã nhiều lần lợi dụng việc thu tiền phụ thu đối với khách hàng là trẻ em nhưng không cập nhật thông tin phụ thu lên hệ thống đặt phòng của công ty; không giao nộp đủ tiền phụ thu cho thủ quỹ theo quy định; tự viết giấy bảo lãnh cho trẻ em đi cùng khách hàng; hủy phiếu tạm thu sử dụng dịch vụ của khách hàng để chiếm đoạt tiền của Công ty cổ phần V, cụ thể:
- Ngày 06/2/2019, ông Ngô Thu Đ đặt phòng tại qua kênh ADAYROI, trên phiếu đặt phòng không thể hiện việc phụ thu tại quầy khi làm thủ tục đối với bé trên 4 tuổi. Tại thời điểm làm thủ tục nhận phòng, có phát sinh thêm 02 cháu là Ngô Hạo N và Amy N1. Q thu tiền phụ thu 2.200.000 đồng, viết phiếu nhưng không nhập thông tin phụ thu lên hệ thống, sau đó tự viết mẫu bảo lãnh cho 02 cháu này.
- Ngày 08/2/2019, bà Nguyễn Thị Tố N2 đặt phòng trực tiếp tại bộ phận đặt phòng, có báo trước việc sẽ phụ thu 01 bé. Tuy nhiên, khi làm thủ tục nhận phòng, Q thu tiền phụ thu của khách là 2.200.000 đồng nhưng không nhập thông tin phụ thu lên hệ thống và tự viết mẫu bảo lãnh.
- Ngày 16/2/2019, ông Mai Thành D đặt phòng qua kênh TANT Travel, có báo trước việc sẽ phụ thu 01 bé, thanh toán tiền phụ thu lúc nhận phòng. Khi Q làm thủ tục cho khách nhận phòng, Q thu tiền phụ thu 1.100.000 đồng nhưng không nhập thông tin phụ thu lên hệ thống đặt phòng, xóa packages và tự viết mẫu bảo lãnh, thời điểm Q chỉnh sửa trên hệ thống là 09 giờ 17 phút cùng ngày
- Ngày 18/2/2019, bà Nguyễn Thị Thảo O đặt phòng qua kênh TA VIETOCEAN, trên phiếu đặt phòng không thể hiện việc phụ thu tại quầy khi làm thủ tục đối với bé trên 04 tuổi. Tại thời điểm làm thủ tục nhận phòng, có phát sinh thêm cháu Nguyễn Viết Đăng K. Q thu tiền phụ thu 650.000 đồng nhưng không nhập thông tin phụ thu lên hệ thống và tự viết mẫu bảo lãnh.
- Ngày 18/2/2019, ông Vũ Thế H đặt phòng tại qua kênh ADAYROI, có báo trước việc sẽ phụ thu 01 bé, thanh toán tiền phụ thu lúc nhận phòng. Tuy nhiên, khi làm thủ tục nhận phòng, Q thu tiền phụ thu của khách là 3.300.000 đồng nhưng không nhập thông tin phụ thu lên hệ thống, xóa packages và tự viết mẫu bảo lãnh, thời điểm Quyên chỉnh sửa trên hệ thống hồ là 12 giờ 41 phút cùng ngày. Tổng số tiền Nguyễn Hoàng Q đã chiếm đoạt của Công ty cổ phần V là 9.450.000 đồng. Đến ngày 27/2/2019, hành vi chiếm đoạt tiền của Nguyễn Hoàng Q bị đại diện Công ty V1 phát hiện và Q đã hoàn trả số tiền 9.450.000 đồng chiếm đoạt cho công ty.
Tại Kết luận giám định số 135/GĐTP/2020 ngày 10/3/2020, Phòng K1 - Công an tỉnh K kết luận: Các chữ ký và chữ viết trên các mẫu giám định “mẫu bảo lãnh”, phiếu phụ thu và chữ viết, chữ ký trên các tài liệu so sánh (sơ yếu lí lịch, hợp đồng lao động... của Nguyễn Hoàng Q) đều là do cùng một người viết ra, ký ra.
Tại Cáo trạng số 79/CT-VKSNT ngày 29/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Nguyễn Hoàng Q về tội: “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 206/2024/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ngày 19/9/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo Nguyễn Hoàng Q tình tiết giảm nhẹ người phạm tội đang mang thai nên chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của luật sư Đào Thanh T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Q: Về tội danh không có ý kiến gì. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình và bị cáo đang mang mang thai, khoan hồng cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Hoàng Q nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của các bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng Q thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm những quan hệ được luật hình sự bảo vệ là bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp ngoài nhà nước và uy tín của doanh nghiệp đó là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, phát sinh tình tiết thêm tình mới là bị cáo đang mang thai nên cần áp dụng thểm điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo là 02 năm tù.
[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, n, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q 02 (Hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |
Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tham ô tài sản
- Số bản án: 17/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN HOÀNG QUYÊN - THAM Ô TÀI SẢN
