Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-PT

Ngày: 07-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Hoài Trí.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch;

Bà Lưu Thị Mỹ Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 215/2024/TLPT-HS ngày 28/10/2024 do có kháng cáo của bị đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST, ngày 17/9/2024, của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương;

- Bị đơn dân sự có kháng cáo: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số D H, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Minh T: Bà Thân Thị Thu P, sinh năm 1996; địa chỉ: số D Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/9/2024); có mặt.

- Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Bình; hộ khẩu thường trú: ấp C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tạm trú: ấp Ông T1, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị S (đã chết); vợ là bà Đặng Thị Bích N, sinh năm 1979 và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2023 và hiện đang chấp hành án tại Trại giam C theo quyết định thi hành án hình phạt tù của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Trần Thị P1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Bà P1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Cháu Trần Thiên An D, sinh ngày 30/4/2015 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của cháu D: Ông Trần Văn Chí H1, sinh năm 1982 và bà Trần Thị P1, sinh năm 1982 (là cha, mẹ ruột cháu D) Cùng cư trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ông H1 có mặt, bà P1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trong vụ án có 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhưng do không có kháng cáo, không có kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 23/01/2022, có giá trị đến ngày 23/01/2027. H làm nghề lái xe thuê cho Công ty TNHH K1.

Tối ngày 29/10/2023, H điều khiển xe ô tô đầu kéo hiệu CNHTC biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04 chở hàng là lúa từ cảng P thuộc thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến giao tại nhà máy C1 thuộc thị xã C, tỉnh Bình Phước. Khoảng 09 giờ ngày 30/10/2023, H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04 đi từ nhà máy C1 đến cảng N thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương để chở hàng là bắp hạt. Đến khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04 chạy đến đoạn đường ĐT741 thuộc khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương hướng đến ngã tư H, do không chú ý quan sát phía trước nên H đã điều khiển xe đầu kéo va chạm vào mặt bên trái đầu xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61K1-274.49 do bà Trần Thị P1 điều khiển chở hai con ruột là cháu Trần Thiên An D ngồi phía sau và cháu Trần Thiên P2 Đ ngồi phía trước, chạy giữa làn đường xe ô tô tải và xe mô tô, phía trước cùng chiều, gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm cháu D tử vong tại hiện trường, bà P1 bị thương nặng, được người dân đưa đến bệnh viện cấp cứu, còn cháu Đ không bị thương tích gì. Riêng H, sau khi gây tai nạn giao thông H tiếp tục điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04 chạy đến cảng N để chở hàng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển xe chở hàng đến Công ty cám CP thuộc thị xã C, tỉnh Bình Phước giao hàng thì bị lực lượng Công an đến mời làm việc.

Vật chứng thu giữ:

  • Một xe ô tô đầu kéo hiệu CNHTC biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04.
  • Một Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 86011438 của xe ô tô đầu kéo hiệu CNHTC biển số 86H-013.45.
  • Một Giấy chứng nhận đăng ký Sơmi rơmoóc số 86000200 của Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04.
  • Một Giấy chứng nhận kiểm định số 1550431.
  • Một Giấy chứng nhận kiểm định số 1612482.
  • Một xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61K1-274.49.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

  • Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường ĐT741 thẳng có trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không hạn chế, được chia thành hai chiều đường bằng 02 vạch sơn liền màu vàng, mỗi chiều xe có vạch sơn màu trắng phân chia thành 03 làn đường, làn đường xe ô tô con rộng 3,6m, làn đường xe ô tô tải rộng 3,6m, làn đường xe mô tô rộng 2,3m. Lấy mép đường bên phải đường ĐT741 hướng từ chợ C2 đến ngã tư H làm mép đường chuẩn. Lấy trụ biển báo phân làn đường nằm trong mép đường chuẩn, cách mép đường chuẩn là 2,5m làm điểm mốc.
  • Vết cày xe mô tô biển số 61K1-274.49 để lại trong khu vực làn đường xe ô tô tải. Vết cày có dạng trục đường thẳng có hướng từ làn xe ô tô tải đến mép đường chuẩn. Đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn là 2,5m, cách trụ biển báo phân làn đường là 23,6m. Điểm cuối vết cày trùng với chân chống đứng của xe mô tô biển số 61K1-274.49. Vết cày có kích thước 10,6m x 0,02m.
  • Nạn nhân Trần Thiên An D tử vong tại hiện trường trong tư thế nằm xấp, đầu quay về hướng chợ C2, lệch về hướng mép đường chuẩn góc 300 (độ), chân quay hướng lề trái. Nạn nhân mặc áo khoác thun dài tay màu xanh nhạt, bên trong mặc bộ đồ thun ngắn tay và ngang gối màu xanh dương nhạt. Đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 1,8m, cách đầu vết cày là 4,8m. Khoảng giữa hai chân nạn nhân cách mép đường chuẩn là 2,1m, cách trục bánh sau xe mô tô biển số 61K1-274.49 là 5,2m, cách đầu nạn nhân 1m, cách mép đường chuẩn 2,9m, cách đầu vết cày 4m, trên mặt đường làn xe ô tô tải có dính bám nhiều mô, tổ chức não màu trắng hồng.
  • Xe mô tô biển số 61K1-274.49, ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng về ngã tư H, hơi lệch về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về chợ C3 lệch về hướng làn đường xe ô tô tải, xe ô tô con. Trục bánh xe trước nằm bên trong mép đường chuẩn, cách mép đường là 0,4m; trục bánh xe sau nằm trên làn đường xe mô tô và cách mép đường chuân là 0,3m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:

  • Dấu vết để lại trên xe ô tô đầu kéo hiệu CNHTC biển số 86H-013.45 kéo theo Sơmi rơmoóc biển số 86R-012.04 sau va chạm với xe mô tô biển số 61K1-274.49: Vành về trước bên phải của xe ô tô đầu kéo có vết trượt xước màu đen hướng từ trước ra sau kích thước 0,25m x 0,01m; vè chắn bùn trước bên phải của xe ô tô đầu kéo có vết xây xát kích thước 0,17m x 0,01m, cách mặt đường nhựa kích thước 0,78m và 0,9m; mặt dưới giá đỡ thùng đựng nước xử lý khí thải bên phải của xe ô tô đầu kéo có dính chất dịch nhầy màu hồng đỏ, cách đường 0,43m, cách trục bánh xe thứ hai bên phải xe ô tô đầu kéo là 1m; trong rảnh vỏ bánh xe thứ hai bên ngoài của trục bánh xe thứ hai bên phải xe ô tô đầu kéo dính vết màu nâu đen kích thước 0,05m x 0,01m.
  • Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 61K1-274.49: Vết sạt trên vỏ bánh xe trước mặt bên trái kích thước 0,2m x 0,03m; xây xát đầu ống phuộc trái kích thước 0,04m x 0,01m; mài mòn đầu tay cầm trái kích thước 0,02m x 0,02m; mài mòn đầu tay thắng kích thước 0,02m x 0,02m; mài mòn, cong bể gương chiếu hậu bên trái về sau kích thước 0,10m x 0,05m; mài mòn mủ ốp phía trên bên trái đèn chiếu sáng trước kích thước 0,2m x 0,10m; mài mòn mủ ốp bảo vệ lọc gió kích thước 0,3m x 0,10m; trượt xước, mài mòn ốp lốc máy bên trái kích thước 0,15m x 0,10m; mài mòn cánh bửng trái kích thước 0,72m x 0,02m; mài mòn đầu chân chống bên trái kích thước 0,02m x 0,02m.

Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 178/2024/KLGĐ-TTPY ngày 25/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trần Thị P1 tại thời điểm giám định là 38%.

Theo Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 09/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, kết luận: Chi phí sửa chữa, thay thế mới các phụ tùng của xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61K1-274.49, trị giá 6.730.000 đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST, ngày 17-9-2024, của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590, 591, 601 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    - Buộc bị cáo Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Minh T phải liên đới bồi thường cho ông Trần Văn Chí H1 và bà Nguyễn Thị P3 số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); bồi thường cho bà Nguyễn Thị P3 số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn dân sự bà Lê Thị Minh T kháng cáo không đồng ý liên đới cùng với bị cáo H bồi thường cho ông Trần Văn Chí H1 và bà Nguyễn Thị P3 số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); bồi thường cho bà Nguyễn Thị P3 số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự giữ nguyên kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Tòa án sơ thẩm xét xử và buộc bị đơn dân sự liên đới cùng bị cáo bồng thường tiếp cho bị hại tổng số tiền 300.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 601 Bộ luật Dân sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện bị đơn dân sự trình bày: Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán thì bà T không có trách nhiệm bồi thường dân sự cho bị hại vì bà T đã giao chiếc xe ô tô cho bị cáo H quản lý, sử dụng đúng quy định; bị cáo H có đủ năng lực hành vi, có Giấy phép lái xe hợp lệ. Giữa bà T và bị cáo H không có thoả thuận về nghĩa vụ bồi thường của bà T khi lái xe gây ra thiệt hại. Căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự thì bị đơn dân sự không phải bồi thường. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T theo hướng không buộc bà T liên đới cùng bị cáo H bồi thường thiệt hại cho bị hại. Trường hợp chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T thì bà T tự nguyện hổ trợ thêm cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại (ông H1): Việc thoả thuận bồi thường giữa đại diện bị hại (ông H1) và bị đơn dân sự (bà T) thì có ghi rõ trong biên bản là bà Thái H2 trợ cho bị hại. Thiệt hại xảy ra là cháu D đã chết, còn bị hại P3 thì bị thương tật vĩnh viễn, không đủ sức lao động, hoàn cảnh của gia đình bị hại rất khó khăn. Tòa án sơ thẩm xét xử và tuyên trách nhiệm bồi thường thì ông H1 đồng ý; vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị đơn dân sự làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Bị đơn dân sự chỉ kháng cáo một phần của quyết định sơ thẩm về việc buộc bị cáo và bị đơn dân sự phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn dân sự: Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa có cơ sở kết luận: vào khoảng 10 giờ 55 phút ngày 30/10/2023, tại đoạn đường ĐT741 thuộc khu phố H, phường C, thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo hiệu CNHTC biển số: 86H-013.45 kéo theo Sơ mi rơ moóc biển số: 86R-012.04, nhưng không chú ý quan sát dân đến va chạm với xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 61K1-274.49 do chị Trần Thị P1 điều khiển chở hai con là Trần Thiên An D ngồi sau và Trần Thiên P2 Đ ngồi trước, chạy phía trước cùng chiều, gây tai nạn giao thông, làm cháu Trần Thiên An D tử vong tại hiện trường và chị Trần Thị P1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật là 38%. Sau khi gây tai nạn, H tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Như vậy Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST, ngày 17-9-2024, của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương tuyên bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 và buộc bị cáo và bị đơn dân sự phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là có căn cứ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được thực hiện theo quy định tại Chương XX Bộ luật Dân sự và theo nguyên tắc bồi thường được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự. Cụ thể khoản 1 Điều 585 quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường Tòan bộ và kịp thời. các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Xét thấy, Tòa án sơ thẩm căn cứ Điều 590, 591 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo (là người trực tiếp gây ra thiệt hại) và bị đơn dân sự (là người thuê bị cáo thực hiện công việc) bồi thường cho bị hại với tổng số tiền là 534.000.000 đồng là có cơ sở. Như trên đã viện dẫn việc bồi thường thiệt hại thì các bên “có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần”, căn cứ vào biên bản thỏa thuận giửa đại diện gia đình bị hại, bị đơn dân sự và bị cáo thì việc thỏa thuận bị đơn dân sự bồi thường 200 triệu đồng cho bị hại là sự thỏa thuận của bị đơn dân sự và ông H1 là người đại diện hợp pháp của bị hại D. Việc thỏa thuận bồi thường trên không có sự điồng ý thống nhất của bị cáo H, của bị hại P1; do đó thỏa thuận giửa bị đơn dân sự và ông H1 không là cơ sở để xác định bị đơn dân sự không còn nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại. Theo Điều 600 Bộ luật Dân sự quy định: “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”. Như vậy, trong vụ việc trên thì bị cáo H là người làm công cho bị đơn dân sự là người có lỗi gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho bị hại D, P1. Do vậy bị đơn dân sự phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định như đã viện dẫn. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm buộc bị đơn dân sự có trách nhiệm liên đới cùng với bị cáo H tiếp tục bồi thường cho bị hại D, bị hại P1 300 triệu đồng là đúng pháp luật.

Tại phiên Tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự không cung cấp được chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có cơ sở, do đó kháng cáo của bị đơn dân sự không được chấp nhận.

Vì vậy giữ nguyên quyết định sơ thẩm đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Bản án sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 17-9-2024, của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm có căn cứ.

[5] Quan điểm của người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự bà Nguyễn Thị Minh T2.
  2. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 17-9-2024, của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Minh T2 phải nộp 200.000 đồng.
  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 07/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Phòng PV06-Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Hoài Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 17/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger