|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày 13-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Ông Nguyễn Thiện Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 19/9/1998 tại tỉnh Thái Bình; ĐKHK: Số nhà I, ngõ D, đường N, tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Hiện đang cư trú tại: Số nhà I, đường B, khu Đô thị T, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1974 và bà Đào Thị Hồng K, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 23/12/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Trích xuất có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Duy P, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số nhà D, đường T, tôt G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
* Người chứng kiến:
- Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số nhà A, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, Nguyễn Trung Đ đi bộ từ chỗ ở đến khu vực C, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình với mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến nơi Đ gặp và mua được của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ 02 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng. Đ cất 02 túi ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải của Đ đang mặc rồi Đ đi bộ ra khu vực đường N, tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình để bán ma túy. Khi Đ đang đứng tại đây thì có Hà Duy P đến hỏi mua ma túy của Đ, Đ đồng ý. P đưa cho Đ 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, Đ nhận tiền rồi cất vào trong túi áo khoác bên trái của Đ, sau đó Đ lấy từ túi quần bên phải của Đ ra đưa cho P 01 túi ma túy, thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H và anh Phạm Văn T, Đ tự giác lấy từ trong túi quần bên phải của Đ ra 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và lấy từ túi áo khoác bên trái đang mặc ra 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá của Đ cất giấu để bán và tiền là của Đ vừa bán ma túy cho P mà có. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định, kết quả là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1157 gam; P cũng tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của P ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá P vừa mua của Đ với giá 200.000đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong vật chứng gửi đi giám định, kết quả là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0501 gam. Sau đó tổ công tác yêu cầu P, Đ và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định. Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ nhưng không thu giữ gì.
Kết luận giám định số 1858/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Hà Duy P gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0501 gam (Không phẩy không nghìn năm trăm linh một gam); Mẫu vật quản lý của Nguyễn Trung Đ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1157 gam (Không phẩy một nghìn một trăm năm mươi bảy gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Kết luận giám định số 1935/KL-KTHS ngày 01/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 tờ tiền cần giám định là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKSTPTB ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024, phạt bổ sung 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 0,0286 gam ma túy loại Methamphetamine, bao gói quản lý của Hà Duy P và 0,0890 gam ma túy loại Methamphetamine, bao gói quản lý của Nguyễn Trung Đ được niêm phong trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1858/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng của P mua ma tuý của Đ. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố T lập ngày 17/12/2024; Biên bản khám xét lập ngày 17/12/2024; Kết luận giám định số 1858/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Kết luận giám định số 1935/KL-KTHS ngày 01/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của những người chứng kiến và các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, tại khu vực đường N, tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trung Đ có hành vi bán trái phép 0,0501 gam Methamphetamine cho Hà Duy P lấy 200.000đồng. Ngoài ra, Nguyễn Trung Đ còn tàng trữ trái phép 0,1157 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine Đ bán cho P và cất giấu mục đích để bán là 0,1658 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
................................................................................................................................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Ma túy hiện nay đã trở thành vấn nạn nhức nhối cho toàn xã hội, bản thân người sử dụng sẽ bị hủy hoại về sức khỏe, tinh thần bị rối loạn, giảm khả năng lao động, học tập, nhân cách bị tha hóa. Tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp đạo đức xã hội và pháp luật mua bán ma túy để hưởng lời với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Trung Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Bị cáo Nguyễn Trung Đ mua bán ma túy với mục đích để hưởng lời nên cần xử phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 0,0286 gam ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói quản lý của Hà Duy P và 0,0890 gam ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói quản lý của Nguyễn Trung Đ được niêm phong trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1858/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T là vật bị nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu huỷ. Số tiền 200.000 đồng của P mua ma tuý của Đ trong 01 phong bì niêm phong bên trong chưa 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri ID 19441598 hoàn trả mẫu vật giám định số 1935/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T là số tiền thực hiện giao dịch trái pháp luật cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác:
[7.1] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Trung Đ khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu V, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình ngày 17/12/2024, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[7.2] Đối với Hà Duy P có hành vi cất giấu 0,0501 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân: Khối lượng chất ma túy mà P cất giấu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Công an thành phố T ra quyết định xử lý hành chính số 12/QĐ-XPHC ngày 25/12/2024 bằng hình thức phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng đối với P, P đã nộp xong số tiền trên ngày 31/12/2024.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt:
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024, phạt bổ sung 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,0286 gam ma túy loại Methamphetamine, bao gói quản lý của Hà Duy P và 0,0890 gam ma túy loại Methamphetamine, bao gói quản lý của Nguyễn Trung Đ được niêm phong trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1858/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng của Hà Duy P mua ma tuý của Nguyễn Trung Đ trong 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri ID 19441598 hoàn trả mẫu vật giám định số 1935/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 15/01/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Trung Đ có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 13/02/2025. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hà Duy P có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Đ - Mua bán trái phép chất ma tuý
