Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/DS-PT

Ngày 13 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền
  • Thẩm phán: Bà Lại Thị Hiếu, bà Đinh Thị Mai Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Cương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.

Theo Quyết đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985 (Có mặt) và bà Cao Thu H, sinh năm: 1987 (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Bà Cao Thu H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T đại diện tham gia tố tụng.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Đặng Văn C (vắng mặt), bà Hoàng Thị Hương G (Có mặt) – Luật sư Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số F phố T, phường Q, quận Đ, Thành phố H.

  2. Bị đơn: Ông Ngô Tiến L, sinh năm: 1959. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Vũ Đức T1 - Luật sư Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Cao Minh T2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam T6, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    • + Bà Hà Thị Kim L1, sinh năm 1984; Địa chỉ cũ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Địa chỉ mới: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
    • + Bà Nguyễn Thị N; sinh năm: 1962. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
    • + Ông Cao Xuân B, sinh năm 1946. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Người kháng cáo : Ông Ngô Tiến L - là bị đơn; bà Nguyễn Thị N – là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông T, bà H là chủ hợp pháp chủ sở hữu tài sản là một mảnh đất tại tổ P, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 15; gồm thửa đất số 507, 508 với tổng diện 277,4 m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Cao Minh T2 và bà Hà Thị Kim L1 được UBND huyện S cấp ngày 15/6/2015. Hiện nay mảnh đất đã chuyển nhượng sang tên vợ chồng anh T và bà H. Nguồn gốc nhà đất này do ông Cao Xuân B tặng cho ông T, bà H theo hợp đồng tặng cho ngày 22/7/2020. Đến tháng 11 năm 2020, ông Ngô Tiến L sang chửi bới, đe dọa, uy hiếp gia đình ông, chặt phá cây cối trên đất, ông L đo đất đóng cọc rào đất. Ngày 05/6/2021, ông L còn mang thép B40 rào quanh đất, đào chiếm giữ trái phép đất với diện tích là 103,8m²; chiều dài đất là 23,6 mét, chiều rộng là 4,4 mét thuộc thửa đất số 507, 508 tờ bản đồ số 15 của gia đình ông. Ông L lấn chiếm đất ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Ông T đã nhiều lần yêu cầu tháo dỡ hàng rào dây thép nhưng ông L không tháo dỡ. Kết quả xem xét, thẩm định thửa đất tranh chấp có diện tích là 126,2 m². Nay vợ chồng ông T, bà H yêu cầu ông L tháo dỡ hàng rào trái phép trả lại phần diện tích đất lấn chiếm cho gia đình ông bà.

· Bị đơn ông Ngô Tiến L trình bày:

Vào ngày 30 tháng 6 năm 2018, Cao Minh T2; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La là người người đứng tên chủ sử dụng mảnh đất đã viết giấy chuyển nhượng đất thổ cư cho vợ chồng ông với giá 600.000.000 đồng, anh Cao Minh T2 đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng rồi ký vào Giấy chuyển nhượng đất, khi đó có bà Bùi Thị O cũng ký là người làm chứng cùng ông Cao Xuân B ký người đồng thừa kế bên bán. Đến ngày 10/12/2020 và ngày 17/5/2021 anh Cao Minh T2 đã viết 02 giấy cam kết là sẽ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông để đi làm thủ tục sang tên tách bìa đất, nhưng ông T2 không thực hiện nghĩa vụ rồi đến năm 2020 thì ông T2 đã tẩu tán tài sản cố tình không làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông mà lại chuyển nhượng mảnh đất cho người thân trong gia đình. Chính vì vậy việc ông T, bà H khởi kiện đòi ông phải trả lại phần diện tích đất đã mua của ông T2 và di dời tài sản trên đất ông không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cao Minh T2 trình bày:

Vào ngày 30/6/2018, Cao Minh T2 sang nhà ông L, bà N để vay số tiền 600.000.000 đồng, khi đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông đang thế chấp tại Ngân hàng. Do không có gì làm tin bảo đảm số tiền vay nên ông L, bà N bảo ông viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo giấy chuyển nhượng viết tay thì bên chuyển nhượng là vợ chồng Cao Minh T2 và Hà Thị Kim L1, bên nhận chuyển nhượng là ông Ngô Tiến L và bà Nguyễn Thị N nhưng thực tế hôm viết giấy chuyển nhượng đất thì không có mặt bà L1 ở đó, vợ ông không biết sự việc vay tiền, không biết việc ông viết giấy chuyển nhượng đất và không cùng ký vào giấy tờ chuyển nhượng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Kim L1 trình bày:

Vào ngày 30/6/2018 việc chồng bà là Cao Minh T2 có viết giấy chuyển nhượng đất thổ cư cho vợ chồng ông Ngô Tiến L và bà Nguyễn Thị N thì bà hoàn toàn không biết, hôm viết giấy chuyển nhượng bà cũng không có mặt ở đó, giấy viết tay mua bán đất không biết ai viết tên bà vào, bà L1 không biết sự việc đó và bà cũng không được ký nhận gì vào giấy chuyển nhượng đất. Chính vì vậy việc chồng bà có viết tay giấy chuyển nhượng đất cho ông L, bà Nghĩa L2 không có giá trị vì thời điểm đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:

Nhất trí với lời trình bày của bị đơn. Không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã quyết định:

Căn các Điều 5, 10 12, 97, 99, 100, 167, 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 163, 164 và 166 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Cao Thu H đối với bị đơn ông Ngô Tiến L:

  • - Buộc bị đơn ông Ngô Tiến L trả lại diện tích đất đang tranh chấp, hiện nay do ông Ngô Tiến L đang chiếm giữ cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Cao Thu H. Kết quả xem xét, thẩm định thửa đất tranh chấp có diện tích là 126,2 m² (trong đó đất trồng cây lâu năm là 100,2 m² và đất ở nông thôn là 26,0 m²). Có tứ cạnh tiếp giáp như sau:

    • + Phía Đông có cạnh là 4,5 mét giáp đất ông Lò Văn T3 và ông Lê Đức T4;
    • + Phía Tây giáp đường L, có chiều rộng cạnh là 4,4 mét;
    • + Phía Nam có chiều dài cạnh là 30 mét giáp đất ông Cao Xuân B và ông Nguyễn Văn T
    • + Phía Bắc có chiều dài cạnh là 30 mét giáp đất ông Nguyễn Văn T và Cao Thu H.

    Vị trí đất tại tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Tại thửa đất số 507, 508, tờ bản đồ số 15, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 674163 do UBND huyện S cấp ngày 15/6/2015 mang tên Cao Minh T2 và bà Hà Thị Kim L1, địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Ngày 22/7/2020, ông Cao Minh T2 và bà Hà Thị Kim L1 tặng cho ông Cao Xuân B. Ngày 28/7/2022 ông Cao Xuân B tặng cho bà Cao Thu H và ông Nguyễn Văn T theo hồ sơ số: 000.169.TA.001.

  • - Buộc ông Ngô Tiến L di dời tài sản ra khỏi đất tranh chấp gồm: Cây chuối to 02 cây, cây chuối nhỏ 05 cây; 01 cây na cho ăn quả từ 03 đến 05 năm; 03 cây ổi cho ăn quả từ 01 đến 02 năm; 01 cây nhãn cho ăn quả từ 01 đến 03 năm; 01 cây đu đủ cho ăn quả trồng 01 năm; 01 giàn mướp (không có mướp) 4,6 x 4,4m = 20,24 m²; 01 chuồng gà 0,7 x 1,2 = 0,84 m²; 01 hàng rào cọc sắt 4,4 + 25m = 29,4m.

    (có sơ đồ xem xét, thẩm định kèm theo)

  • - Về án phí: Ông Ngô Tiến L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Ông Nguyễn Văn T được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.000.000₫ (Hai mươi bốn triệu đồng) theo biên lại thu số: AA/2021/0001685 ngày 24/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Sơn La.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 07/10/2024, bị đơn ông Ngô Tiến L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản đề nghị hủy án hoặc sửa án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Giữa ông L và nguyên đơn không phát sinh bất cứ giao dịch dân sự nào; Quyền sử dụng đất có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ ông Cao Minh T2, ông T2 đã bàn giao đất. Theo bản án hình sự đã tuyên thì ông T2 phải trả cho ông L 600.000.000 đồng. Khi nào ông T2 giao đủ tiền thì ông L, bà N mới trả lại đất.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Ý kiến của bị đơn, quan điểm tại bài luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Giữ nguyên nội dung kháng cáo. Hợp đồng tặng cho là giả tạo và lừa dối, không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Ý kiến của nguyên đơn: Không nhất trí nội dung kháng cáo của bị đơn. Việc tặng cho đảm bảo quy định của pháp luật và đã được đăng

  • - Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên:

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Tiến L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn tại tổ P, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La mà bị đơn lấn chiếm trái phép. Bị đơn xác định đây là diện tích đất thuộc sở hữu của bị đơn và không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất, xác định thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  2. [2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Tiến L, người có quyền lợi, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

    Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, đủ trình tự thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án.

    Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của các đương sự, những người liên quan, có căn cứ xác định:

    Diện tích đất tranh chấp nằm trong tổng diện tích đất 277,4 m², thửa đất số 507, 508, tờ bản đồ số 15 tại tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 674163 mang tên hộ ông Cao Minh T2 và bà Hà Thị Kim L1; được UBND huyện S cấp ngày 15/6/2015.

    Trước thời điểm tháng 6/2018, Cao Minh T2 đã vay mượn tiền của nhiều người trên địa bàn huyện S. Do cần tiền để đảo nợ và chi tiêu, T2 đặt vấn đề vay tiền của vợ chồng ông Ngô Tiến L, bà Nguyễn Thị N. Vợ chồng ông L, bà N đồng ý cho T2 vay số tiền 600.000.000 đồng và yêu cầu phải có tài sản bảo đảm. Để lấy được tiền, mặc dù không có quyền sử dụng thửa đất mang tên Cao Thu H (em gái T2) nhưng T2 đã thỏa thuận thế chấp diện tích đất của H1 chồng ông L, bà N. Hai bên viết giấy vay tiền dưới hình thức chuyển nhượng đất thổ cư ngày 30/6/2018, nội dung: vợ chồng L-N mua một thửa đất của T2 có kích thước 4,5x30m với giá là 600.000.000 đồng, hẹn sau 01 năm nếu T2 lấy lại đất thì phải trả lại tiền vay và tiền lãi suất là 1,5%/1 tháng. Nếu T2 không trả được tiền thì thửa đất trên sẽ là của anh L, bà N. Hai bên nhờ bà Bùi Thị O (hàng xóm) ký tên xác nhận dưới mục người chứng kiến. Do vợ chồng ông L, bà N yêu cầu phải có chữ ký xác nhận của gia đình nên T2 mang giấy chuyển nhượng đất về nhà đưa ông Cao Xuân B (bố đẻ T2) ký xác nhận để vay được tiền.

    Đến khoảng tháng 12/2018, do bị các chủ nợ liên tục đòi tiền nên T2 thỏa thuận với Cao Thu H về việc đổi thửa đất mang tên ông Cao Xuân B (vì ông B ở cùng nên T2 nghĩ sẽ được thừa kế thửa đất đó) để lấy thửa đất của H (thửa đất T2 sử dụng thế chấp) với mục đích bán thửa đất của H để trả nợ nên H đồng ý. Sau khi T2 bán thửa đất của H thì bị vợ chồng ông L, bà N phát hiện. Để tránh việc bị đòi trả lại tiền nên T2 tự thoả thuận, sử dụng một phần diện tích thửa đất nằm trong tổng diện tích đất của vợ chồng T2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 674163 để làm bảo đảm cho khoản vay. T2 viết nội dung đổi đất thế chấp vào mặt sau của tờ giấy chuyển nhượng khi vay tiền. Nội dung thể hiện: "Ngày 11/12/2018, do điều kiện nên tôi chuyển mảnh đất anh bà Nghĩa L3 mua chuyển sang mảnh đất phía tay phải số nhà 25 của tôi...”.

    Việc T2 viết nội dung đổi đất thế chấp, thế chấp diện tích đất trong khối tài sản chung vợ chồng thì vợ T2 là bà Hà Thị Kim L1 không hề hay biết. Tại thời điểm trên, diện tích đất của vợ chồng T2, L1 đang được thế chấp tại Ngân hàng A chi nhánh huyện S, tỉnh Sơn La. Đối với số tiền 600.000.000 đồng vay được, T2 sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân, không phục vụ vào mục đích, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của gia đình T2.

    Khoảng tháng 07/2020, để trả nợ cho H số tiền 2.750.000.000 đồng và có tiền sử dụng nên T2 nhờ H vay tiền bên ngoài để tất toán khoản vay năm 2017 tại ngân lấy lại Giấy nhận quyền sử dụng đất làm thủ tục cho, tặng từ T2 sang H. Theo đó, T2 thực hiện thủ tục tặng, cho nhà và đất của T2 cho ông Cao Xuân B và làm thủ tục để ông B cho, tặng H. Ngày 14/7/2020, Hà tất T5 khoản nợ và làm thủ tục xóa thế chấp khoản vay đối với G1 quyền sử dụng đất mang tên T2. Sau khi hoàn tất việc cho tặng, H sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để vay tiền tại ngân hàng. Việc tất toán, cho tặng và đăng ký quyền sử dụng được thực hiện theo quy định tại ngân hàng, quy định của pháp luật về công chứng và đăng ký quyền sử dụng đất.

    Sau khi biết việc T2 tặng, cho tài sản đã thế chấp, vợ chồng ông L3, bà N nhiều lần yêu cầu T2 trả lại tiền thì T2 lập các giấy cam kết tháng 12/2020 và tháng 5/2021 với nội dung sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L3, bà N để đi làm thủ tục sang tên tách bìa đất. Thực tế, T2 không thể thực hiện được nội dung như giấy cam kết, đồng thời không thực hiện việc trả tiền cho ông L3, bà N.

    Do Cao Minh T2 không trả tiền nên ông L3 đã làm đơn tố giác tới Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 12/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã xét xử Cao Minh T2 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xác định bị hại là ông Ngô Tiến L và bà Nguyễn Thị N. Về trách nhiệm dân sự: Bản án đã tuyên buộc bị cáo Cao Minh T2 phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là ông Ngô Tiến L và bà Nguyễn Thị N số tiền là 600.000.000 đồng. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 528/2024/HSPT ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tuyên giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.

    Như vậy, có thể thấy rằng, giao dịch giữa Cao Minh T2 và ông Ngô Tiến L thực chất là hợp đồng vay tài sản. Việc viết các giấy chuyển nhượng, nội dung đổi đất, cam kết thực chất là thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của ông L, bà N. Giữa hai bên không thực hiện việc chuyển nhượng đất theo quy định, không đăng ký biến động đất đai, không đảm bảo về chủ thể. Giao dịch chuyển nhượng đất giữa Cao Minh T2 và ông Ngô Tiến L là không hợp pháp. Mặt khác nội dung liên quan đến số tiền 600.000.000 đồng giữa Cao Minh T2 và ông Ngô Tiến L, bà Nguyễn Thị N đã được giải quyết thông qua bản án có hiệu lực của Tòa án. Đối với nội dung tặng cho đất giữa Cao Minh T2 và ông Cao Xuân B, giữa ông Cao Xuân B và bà Cao Thu H đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Thực tế tại thời điểm tặng cho, Cao Minh T2 còn nợ tiền Cao Thu H. Thời điểm tặng cho trước thời điểm T2 bị điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội. Mặc dù có mối quan hệ anh em trong gia đình, nhưng hành vi của Cao Minh T2 không được xác định là tẩu tán tài sản. Diện tích đất tranh chấp được xác định là diện tích đất hợp pháp của nguyên đơn bà Cao Thu H, ông Nguyễn Văn T.

    Cấp sơ thẩm xem xét, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  3. [3]. Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc đối với diện tích đất và tài sản trên đất. Việc xem xét thẩm định tại chỗ được thực hiện vào ngày 08/08/2022, việc đo vẽ được thực hiện bằng tay. Trên đất có một số cây trồng ngắn ngày. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm là ngày 26/9/2024, tức là cách thời điểm thẩm định tại chỗ hơn 02 năm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã giải thích cho các đương sự về khả năng thay đổi một số tài sản, cây trồng trên đất. Tuy nhiên các bên đương sự xác định tài sản trên đất vẫn giữ nguyên như thời điểm cấp sơ thẩm giải quyết, không trồng cây và xây dựng thêm tài sản trên đất; không đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

  4. [4]. Từ những nhận định, phân tích nêu trên, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Tiến L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

  5. [5]. Về án phí:

    Về án phí phúc thẩm: bị đơn ông Ngô Tiến L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Tiến L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên bản dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

  2. Về án phí phúc thẩm:

    • - Bị đơn ông Ngô Tiến L được miễn án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên thu số: 0001610 ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Sơn La.

    • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0001611 ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Sơn La. Bà N đã nộp đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (13/02/2025).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện S;
  • - Tòa án nhân dân huyện S;
  • - Chi cục THADS huyện Sô;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV-THADS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tòng Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger