|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày: 11 – 02 – 2025.
V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và tranh chấp về hụi !"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Giáp Long
- Ông Dư Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký viên Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 510/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp về hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Thái Thị Thu H, sinh năm 1971; địa chỉ: số B, đường N, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: bà Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1986; địa chỉ: số D, đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 11 năm 2024 và các lời khai tại Toà án nguyên đơn bà Thái Thị Thu H trình bày: bà Trần Thị Ngọc N có nợ bà các khoản tiền như sau:
Về tiền cho bà N mượn 200.000.000 đồng, cụ thể: vào ngày 02/3/2023 bà N mượn 100.000.000 đồng, ngày 20/3/2023 bà N mượn 100.000.000 đồng.
Về tiền hụi: vào ngày 29/02/2024, bà N tham gia chơi 05 chân hụi 2.000.000 đồng, hụi tuần, khui hụi vào thứ 5 hàng tuần, ngày khui hụi là ngày 29/02/2024, ngày mãn hụi ngày 31/10/2024, tổng cộng 36 phần. Bà N hốt một lần 05 chân hụi vào kỳ thứ 3, ngày 14/03/2024 với tổng số tiền 306.400.000 đồng và đóng hụi chết lại được 06 tuần với số tiền 60.000.000 đồng thì ngưng. Sau khi hốt hụi bà N phải có trách nhiệm đóng lại là 33 tuần nhưng chỉ đóng được 06 tuần, nên bà N phải có trách nhiệm đóng thêm 27 tuần với số tiền 270.000.000 đồng nhưng cho đến nay bà N không đóng tiếp. Vào ngày 27/9/2024 bà H và bà N có gặp nhau thoả thuận; các bên đã thống nhất lại tiền mượn và tiền hụi, bà chỉ còn nợ lại của bà H số tiền 400.000.000 đồng, sau đó bà N có trả cho bà H được 50.000.000 đồng, hiện nay bà N còn nợ lại số tiền 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi.
Nay bà Thái Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc bà Trần Thị Ngọc N trả lại cho bà tổng số tiền 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi.
- Bị đơn bà Trần Thị Ngọc N trình bày: bà thừa nhận có nợ bà H các khoản nợ như trên. Đối với tiền vay bà có đóng lãi cho bà H được một thời gian nhưng bà không yêu cầu xem xét lại. Nay bà cũng thừa nhận còn nợ của bà H số 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà không có khả năng trả một lần mà bà xin trả nhiều lần trong thời hạn 01 năm sẽ trả dứt nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: nguyên đơn có cho bị đơn vay tiền và tham gia chơi hụi. Nay nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn trả số tiền đã vay và tiền hụi. Cho nên, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: vụ án trên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi thường trú tại thành phố S; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[3] Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: do các đương sự không yêu cầu xem xét, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về thời hiệu khởi kiện.
[4] Về thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 470.000.000 đồng, nhưng tại phiên toà nguyên đơn chỉ yều cầu bị đơn trả số nợ 350.000.000 đồng là còn trong phạm vi khởi kiện, căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về nội dung:
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả các khoản nợ gốc 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi: nhận thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H đã được bị đơn bà N thừa nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cho nên, nguyên đơn bà Thái Thị Thu H yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Ngọc N trả số tiền 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi là có cơ sở chấp nhận.
[6] Phía bị đơn xin trả nợ cho nguyên đơn nhiều lần, trong thời hạn 01 năm nhưng phía nguyên đơn không đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận và vấn đề này sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.500.000 đồng (350.000.000 đồng x 5%), nguyên đơn bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Thu H: buộc bị đơn bà Trần Thị Ngọc N có trách nhiệm trả cho bà Thái Thị Thu H số tiền 350.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 150.000.000 đồng tiền hụi.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà H có đơn yêu cầu thi hành án mà bà N không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên cho bà H thì hàng tháng bà N còn phải chịu thêm tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Thái Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.400.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008557, ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Trần Thị Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.500.000 đồng.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Thanh Bình |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp về hụi
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H
