|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 11/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền và ông Nguyễn Văn Ánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15/01/2025 và ngày 11/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 25/12/2024, đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; Đăng ký HKTT: Tổ B, ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 05/12; Cha tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; Mẹ tên: Triệu Thị T, sinh năm: 1978; Vợ: Lê Thị Thanh T1, sinh năm: 1994; Con: Chưa có; Tiền sự và tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 14/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/10/2015; Tạm giữ: Ngày 18/7/2024; Tạm giam: Ngày 27/7/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Dương Tiết Nguyễn Thùy D, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: Số H, đường X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
* Người làm chứng:
Anh Liêu Đức H, sinh năm: 1982;
Anh Liêu Hoàng H1, sinh năm: 1977;
Bà Lê Thị S, sinh năm: 1965;
Địa chỉ: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.
Anh Trần Thanh T2, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Số B M, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt; Chị D, anh H, anh H1, bà S, anh T2 vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo N làm nghề tài xế lái xe dịch vụ, trong một lần chở khách, bị cáo N gặp người tên H (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) giới thiệu có người tên L1 (Không rõ họ tên, địa chỉ) có nhu cầu thuê người vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu từ khu vực Cửa khẩu Quốc tế B3 thuộc xã B, thị xã K, tỉnh Long An về thành phố Cần Thơ, tiền công vận chuyển mỗi chuyến là 1.000.000 đồng. Biết vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận, bị cáo N đồng ý và kết bạn Z với H để liên hệ khi có chuyến hàng. Đến khoảng 19 giờ, ngày 18/7/2024, qua sự chỉ dẫn của H, bị cáo N một mình đi đến bãi đậu xe ô tô tự phát cách Cửa khẩu Quốc tế B3 khoảng 400m, nhận xe ô tô biển số 51H-108.24 được L1 đậu sẵn tại đó điều khiển đến gần khu vực cửa khẩu Quốc tế B3. Tại đây, K và B (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) chở thuốc lá đến chất lên xe, bị cáo N lấy biển số 67A-256.95 có sẵn trên xe gắn chồng lên biển số 51H-108.24 phía trước và sau xe để ngụy trang, rồi xuất phát đi từ Cửa khẩu Quốc tế B3 theo tuyến đường N2 về hướng thành phố Cần Thơ để giao số thuốc. Trên đường đi, H điều khiển xe ô tô (Không nhớ loại xe và biển số) chạy trước bị cáo N khoảng cách từ 02km đến 03km để dẫn đường, cảnh giới lực lượng Công an. Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi di chuyển đến Khu công nghiệp T thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo N rẽ vào đường nội bộ của khu công nghiệp, dừng lại tại bãi đất trống, lấy biển số 51K-906.52 có sẵn trên xe xuống thay biển số 67A-256.95. Lúc này, lực lượng trinh sát hình sự Công an huyện T phối hợp Công an xã M tiến hành kiểm tra phát hiện trên xe do bị cáo N điều khiển có 17.950 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (trong đó: 9.300 bao nhãn hiệu JET; 6.650 bao nhãn hiệu HERO và 2.000 bao nhãn hiệu SCOTT) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.
Ngoài lần vận chuyển bị bắt quả tang nêu trên, bị cáo N khai nhận trước đó, với cách thức tương tự, bị cáo N đã vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu cho L1 03 lần. Trong các lần này, bị cáo N đều không rõ số lượng bao thuốc lá, chủng loại thuốc lá và nhân thân, địa chỉ người nhận, thu lợi được số tiền 3.000.000 đồng.
Tại Công văn số 199/CV-2024-HHTLVN của H2 xác nhận: 17.950 bao thuốc lá điếu (Gồm 9.300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 6.650 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO, 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT) đều không có dán tem, in cảnh báo sức khỏe bằng hình và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá. Tất cả 17.950 bao thuốc lá điếu như trên đều là thuốc lá điếu nhập lậu.
Về vật chứng đã thu giữ:
- 9.300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 6.650 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT.
- 01 xe ô tô biển số 51H-108.24 nhãn hiệu Innova. Xe ô tô này do chị D đứng tên giấy đăng ký xe, ngày 31/10/2023 chị D cho ông Liêu Đức B1 thuê, quản lý, sử dụng vào mục đích chạy xe dịch vụ. Ông B1 cho người khác thuê lại xe, đến ngày 25/4/2024 ông B1 chết, không ai trong gia đình ông B1 biết về nhân thân của người thuê xe lại từ ông B1.
- 07 cặp biển số gồm: 51K-906.52, 68A-162.39, 51L-369.16, 61A-951.93, 51H-891.53, 63A-233.98, 67A-256.95.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng vàng bị cáo dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đen; tiền Việt Nam 6.200.000 đồng (Gồm 08 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, 11 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng) của bị cáo N của bị cáo N không liên quan đến việc phạm tội.
* Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTM ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo N về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N với mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (T3) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự đề nghị phạt bổ sung bị cáo N từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
* Đối với chị D, anh H, anh H1, bà S và anh T2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, chị D, anh H, anh H1, bà S và anh T2 cũng không có gửi cho Tòa án văn bản ý kiến gì nên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của những người này.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 77/CT-VKSTM ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo đã có hành vi vận chuyển 17.950 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu cho các đối tượng hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch từ Cửa khẩu Quốc tế B3 thuộc địa phận xã B, thị xã K, tỉnh Long An đi đến thành phố Cần Thơ để hưởng lợi theo thỏa thuận là 1.000.000 đồng, bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 18/7/2024, tại đường nội bộ Khu công nghiệp T thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận thẩm định, cùng với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[4] Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên và vận chuyển tổng cộng 17.950 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nên thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
[5] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo N đã cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
[6] Xét thấy: Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là xâm phạm đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước có chức năng, buôn bán, kinh doanh thuốc lá và gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử hôm nay là cần thiết và cần phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[9] Về hình phạt bổ sung: Đối với hành vi vận chuyển hàng cấm của bị cáo cần phạt bổ sung một khoản tiền nhất định để nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[10] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 07 cặp biển số gồm: 51K-906.52, 68A-162.39, 51L-369.16, 61A-951.93, 51H-891.53, 63A-233.98, 67A-256.95. Đây là các biển số giả nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 17.950 bao thuốc lá điếu (gồm 9.300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 6.650 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO, 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT). Đây là thuốc lá nhập lậu và cũng là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng vàng của bị cáo. Đây là phương tiện bị cáo dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đen; số tiền 6.200.000 đồng của bị cáo. Đây là tài sản của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe ô tô biển số 51H-108.24 nhãn hiệu Innova. Đây là tài sản của chị D và chị D không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chị D.
- Trước lần vận chuyển bị bắt trong vụ án này thì bị cáo đã vận chuyển hàng cấm 03 lần và hưởng lợi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ hành vi vận chuyển hàng cấm nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên chấp nhận.
[13] Đối với chị D là chủ sở hữu xe ô tô biển số 51H-10824 đã cho ông Liêu Đức B1 thuê sử dụng vào mục đích chạy xe dịch vụ, hiện nay ông B1 đã chết và chị D không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này để vận chuyển hàng cấm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với chị D là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[14] Đối với người tên L1, H, K1, B do không rõ họ, chữ lót, tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể của những người này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét xử lý, khi nào có đủ căn cứ pháp lý sẽ xử lý sau bằng vụ án khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N với số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 17.950 bao thuốc lá điếu (gồm 9.300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 6.650 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO, 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT); 07 cặp biển số gồm: 51K-906.52, 68A-162.39, 51L-369.16, 61A-951.93, 51H-891.53, 63A-233.98, 67A-256.95.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng vàng của bị cáo N.
- Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đen; số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho chị Dương Tiết Nguyễn Thùy D 01 xe ô tô biển số 51H-108.24 nhãn hiệu Innova.
- Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2024.
- Buộc bị cáo N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi vận chuyển hàng cấm là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với chị D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Thanh Minh Hiền - Nguyễn Văn Ánh |
Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về vận chuyển hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
