TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 17/2025/DS-ST Ngày 11-02-2025 V/v “Tranh chấp tiền hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Quyến
Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận, là Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp tiền hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Anh Huỳnh Minh K (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Chị Nguyễn Ngọc T (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
- Chị Nguyễn Hồng V (vắng mặt)
Địa chỉ:: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Anh Thạch Tuấn A (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T trình bày: Do quen biết nên vợ chồng chị T có cho vợ chồng bà Nguyễn Hồng V và ông Thạch Tuấn A tham gia chơi hụi do vợ chồng chị T làm chủ gồm các dây hụi sau:
Dây 1: Hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 22/6/2022 âm lịch, 01 tháng khui một lần, gồm 30 phần. Bà V, ông Tuấn A tham gia 02 phần, trong đó có 01 phần bà V và ông Tuấn A đóng được 03 lần, đến lần thứ 04 hốt được số tiền 39.320.000 đồng. Phần còn lại bà V và ông Tuấn A đóng được 04 lần đến lần thứ 5 thì hốt được số tiền 40.600.000 đồng. Đối với dây hụi này bà V và ông Tuấn A còn nợ lại 22 lần hụi chết, với số tiền là 44.000.000 đồng.
Day 2: Hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 19/9/2022 âm lịch, 01 tháng khui một lần, gồm 30 phần. Bà V, ông Tuấn A tham gia 02 phần, trong đó có 01 phần bà V và ông Tuấn A đóng được 02 lần, đến lần thứ 03 hốt được số tiền 19.080.000 đồng. Phần còn lại bà V và ông Tuấn A đóng được 03 lần đến lần thứ 04 thì hốt được số tiền 19.080.000 đồng. Đối với dây hụi này bà V và ông Tuấn A còn nợ lại 26 lần hụi chết, với số tiền là 26.000.000 đồng.
Tổng số tiền của các dây hụi sau khi tổng kết lại thì bà Nguyễn Hồng V và ông Thạch Tuấn A còn nợ lại số tiền 70.000.000 đồng, có trả được 1.000.000 đồng, còn nợ lại 69.000.000 đồng.
Trong quá trình nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì bà Nguyễn Hồng V và ông Thạch Tuấn A có trả thêm được 10.000.000 đồng. Ngoài ra, khi chơi hụi thì chỉ có một mình bà Nguyễn Hồng V đứng ra chơi, việc giao nhận tiền cũng do mình bà V đứng ra nhận và ký tên.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Nguyễn Hồng V có trách nhiệm trả số tiền hụi còn nợ là 59.000.000 đồng, không yêu cầu ông Thạch Tuấn A trả nợ.
Nguyên đơn Huỳnh Minh K trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của chị T và không trình bày gì thêm.
Nay anh Huỳnh Minh K thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Nguyễn Hồng V có trách nhiệm trả số tiền hụi còn nợ là 59.000.000 đồng, không yêu cầu ông Thạch Tuấn A trả nợ.
Bị đơn Nguyễn Hồng V, Thạch Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ. Căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp tiền hụi”. Đối với bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án danh sách hụi viên của 02 dây hụi và các biên nhận nhận tiền do chị Nguyễn Hồng V ký nhận vào các ngày cụ thể: Ngày 22/9/2022 nhận số tiền 39.320.000 đồng; ngày 22/11/2022 nhận số tiền 40.600.000 đồng; ngày 19/11/2022 nhận số tiền 19.080.000 đồng; ngày 19/12/2022 nhận số tiền 19.080.000 đồng. Do đó, có cơ sở xác định bị đơn Nguyễn Hồng V có tham gia chơi hụi do chị Nguyễn Ngọc T và anh Huỳnh Minh K làm chủ.
Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có đủ cơ sở xác định số tiền bị đơn Nguyễn Hồng V còn nợ như nguyên đơn trình bày là đúng.
[2.2]. Trong quá trình tố tụng bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác và triệu tập đến Tòa án nhưng bị đơn đều vắng mặt và không đến Tòa án để thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy xem như bị đơn đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình.
[2.3]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc bị đơn Nguyễn Hồng V còn nợ tiền nguyên đơn là có thật. Việc bị đơn Nguyễn Hồng V chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Hồng V trả số tiền còn nợ là có căn cứ.
[2.4]. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn Nguyễn Hồng V trả số tiền 59.000.000 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Thạch Tuấn A.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi tham gia chơi hụi thì chỉ có một mình bà Nguyễn Hồng V đứng ra chơi, việc giao nhận tiền cũng do mình bà V đứng ra nhận và ký tên. Ngoài ra, bị đơn Nguyễn Hồng V cũng không có chứng cứ gì chứng minh số tiền này được sử dụng vì nhu cầu của gia đình. Do đó, có căn cứ xác định đây là nợ riêng của bị đơn Nguyễn Hồng V nên việc nguyên đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Thạch Tuấn A là có căn cứ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
Về việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu trả số tiền 59.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nghị quyết 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi (họ), biêu, phường.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc T, Huỳnh Minh K đối với bị đơn Nguyễn Hồng V.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc T, Huỳnh Minh K đối với bị đơn Thạch Tuấn A.
Buộc bị đơn Nguyễn Hồng V trả cho nguyên đơn Nguyễn Ngọc T, Huỳnh Minh K số tiền còn nợ là 59.000.000₫ (năm mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Nguyễn Hồng V phải nộp là 2.950.000 đồng. Nguyên đơn Huỳnh Minh K, Nguyễn Ngọc T được nhận lại 1.725.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007154 phiếu lập ngày 07/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Thành Đồng |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp tiền hụi
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
