TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc |
Bản án số:17/2025/HS – ST Ngày: 07-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Khel
Ông Nguyễn Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thảo D, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1994; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Số B, đường T, khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Phòng số 01, Nhà T, số F, đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Cao T và bà Đỗ Thị Bích T1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 07/8/2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong vào ngày 30/4/2010. Bị cáo tạm giữ từ ngày 18/9/2024 đến ngày 21/9/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 9 năm 2024, Nguyễn Thảo D đang ở nhà T, số F, đường D, Khóm H, Phường C, thành phố S thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên D điều khiển xe mô tô biển số 83P4-435.46 đến nhà trọ Ba Anh E, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S. Khi đến nơi, D đậu xe ở trước nhà trọ rồi đi bộ đến phòng số 13 thì thấy La Ngọc T2 và Trương Thị N đang đứng trước cửa phòng trọ, lúc này D nói với N “chế ơi bán hai trăm”, thì không ai trả lời nhưng T2 đi ra chỗ D nên D đưa 200.000 đồng cho T2. Sau khi lấy tiền, T2 đi lấy 01 gói ma túy đá đưa cho D. D để gói ma túy vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi D đi đến khu vực trước nhà số A, đường T, Khóm F, Phường B, thành phố S thì bị Đội Cảnh sát điều tra về kinh tế và ma túy, Công an thành phố S phối hợp với Công an phường B, thành phố S tiến hành dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện 01 gói nylon được hàn kín, bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng thu được trong túi quần bên trái phía trước mà D đang mặc trên người. Vì nghi vấn là ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong lại gửi cơ quan chuyên môn giám định.
Tại kết luận giám định số 186/KLMT-KTHS, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1390 gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 (một) gói niêm phong vụ số; 01 số 186/KLMT-KTHS, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh S; 01 xe mô tô biển số 83P4-435.46, màu đỏ - đen, nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS.TPST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Thảo D về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng nêu trên; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thảo Duy P “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy được niêm phong là vật cấm tàng trữ, mua bán theo quy định và chuyển Công an thành phố S 01 xe mô tô nêu trên để xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp để xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thảo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố S trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thảo D thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1390 gam, loại Methamphetamine như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bản thân bị cáo bị nghiện ma túy nên mua ma túy về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/9/2024, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định số 186/KLMT-KTHS, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thảo D có hành vi mua ma túy của đối tượng La Ngọc T2, với số tiền 200.000 đồng, nhằm mục đích để sử dụng, khi bị cáo cất giấu ma túy trong túi quần bên trái phía trước và điều khiển xe đi về đến khu vực trước nhà số A, đường T, Khóm F, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang, thu giữ ma túy có khối lượng 0,1390 gam, loại Methamphetamine. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên của bị cáo Nguyễn Thảo D có đủ định lượng và yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng số 14/CT-VKS.TPST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không làm oan, sai cho bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Thảo D là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải biết rằng ma túy là chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, mà còn xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, trước khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 186/KLMT-KTHS, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S (là ma túy) thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ theo quy định.
Đối với xe mô tô biển số 83P4-435.46, màu đỏ - đen, nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo thu giữ của bị cáo, nhưng trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp, nên chuyển cho Công an thành phố S tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp để xử lý đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng La Ngọc T2, Trương Thị N là người bán ma túy cho bị cáo, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S khởi tố vụ án, khởi tố bị can về Tội mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án hình sự khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, xử lý trong vụ án này.
[3] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thảo Duy P “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thảo D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong vụ 186/KLMT-KTHS, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S (là ma túy) thu giữ của bị cáo.
Chuyển Công an thành phố S 01 (một) xe mô tô biển số 83P4-435.46, màu đỏ - đen, nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo để xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp, để xử lý đúng theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng và Phiếu nhập kho cùng ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thảo D là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Kim Sa Pha |
Bản án số 17/2025/HS – ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án xảy ra trên địa bàn phường 2, thành phố ST
