TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 24-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 336/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị Tuyết N, sinh năm 1988, tại tỉnh Bến Tre; hộ khẩu thường trú: Số nhà B, hẻm A đường T, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1960; bị cáo có chồng tên Trần Phạm C, sinh năm 1986; bị cáo có 03 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh ngày 13/9/2022);
Tiền án: Ngày 14/11/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Bản án số 718/2012/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/9/2013 nhưng chưa đóng án phí, chưa nộp tiền thu lợi bất chính;
Tiền sự: Không;
Ngày 02/8/2024, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Bùi Việt S, sinh năm 1989; HKTT: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1993; HKTT: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Phòng số 08, dãy 25, khu nhà ở xã H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- + Bà Trần Như N1, sinh năm 2001; HKTT: Ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
- + Bà Hồ Thị Phương H1, sinh năm 1992; HKTT: Xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1999; HKTT: Ấp N, xã H, huyện K, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- + Ông Trần Vũ K, sinh năm 1996; HKTT: Tổ 54, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2017, bị cáo Phan Thị Tuyết N mở tiệm phôtô và giới thiệu việc làm tại số B B, tổ E, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bùi Việt S đến nhờ bị cáo N hỗ trợ xin việc làm nên cả hai quen biết nhau. Khoảng tháng 5/2018, S đặt bị cáo N làm các loại giấy tờ giả cho người khác thì bị cáo N đồng ý. Sau đó, S sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Kim Thiên” để đăng tải các bài viết với nội dung nhận làm các loại giấy tờ giả. Sau khi có người đặt làm giấy tờ giả thì S đến trực tiếp tiệm phôtô hoặc sử dụng tài khoản zalo tên “Thùy My” để gửi thông tin, giấy tờ cần làm giả cho bị cáo N qua tài khoản zalo tên “Kelly P”. Do không biết cách làm giấy tờ giả nên bị cáo N liên hệ với người đàn ông tên H2 (không rõ lai lịch) yêu cầu làm giấy tờ giả để bán kiếm lời. Do trước đây H2 có đến tiệm phô tô của bị cáo N giới thiệu H2 có thể làm giấy tờ giả và cho số điện thoại (bị cáo không nhớ số) để bị cáo N liên hệ.
Khoảng đầu tháng 6/2018, Trần Thị Kim O muốn làm hồ sơ xin việc giả nên sử dụng mạng xã hội facebook tìm kiếm thì thấy tài khoản facebook “Kim Thiên” của S. O nhắn tin đặt Sinh làm một hồ sơ xin việc giả thì Sinh báo giá 800.000 đồng và yêu cầu O gửi thông tin cho S. O đồng ý nhưng do sợ S làm sai thông tin nên O mua một bộ hồ sơ xin việc gồm: 01 mẫu đơn xin việc, 02 mẫu sơ yếu lý lịch, 01 mẫu đơn xin xác nhận hạnh kiểm và điền đầy đủ thông tin cá nhân của O, rồi thuê người lái xe ôm giao bộ hồ sơ xin việc kèm theo ảnh 3x4 và 02 bản photocopy giấy chứng minh nhân dân số [...] của O đến khu vực ngã tư T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giao cho S. Sau đó, S đem hồ sơ đến tiệm phôtô của bị cáo N yêu cầu làm giả hình dấu mộc tròn đỏ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vào các tài liệu trên. Bị cáo N liên hệ giao lại hồ sơ của O cho đối tượng H2 làm giả với giá 80.000 đồng. Sau khi H2 giao lại hồ sơ đã làm giả, bị cáo N gọi S đến tiệm phôtô lấy hồ sơ và S trả cho bị cáo N 350.000 đồng. Sau đó, S thuê người lái xe ôm với giá 150.000 đồng đem bộ hồ sơ giả đến giao cho O tại khu vực ngã ba P, phường H, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương và nhận của O 800.000 đồng.
Sau khi nhận bộ hồ sơ giả, O kiểm tra thấy ngoài các giấy tờ mà O đã gửi còn có thêm 01 giấy khám sức khỏe và tất cả giấy tờ có trong hồ sơ đều có đóng hình dấu mộc tròn đỏ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhưng không có hình dấu mộc tròn đỏ đóng giáp lai ảnh 3x4. O liên lạc với S yêu cầu bổ sung, S đồng ý với chi phí bù thêm là 200.000 đồng. O tiếp tục mua thêm một bộ hồ sơ xin việc điền thông tin như trên, rồi thuê xe mô tô gửi kèm với bộ hồ sơ xin việc sai sót đến khu vực ngã tư T giao cho S. Sinh đem 02 bộ hồ sơ giao cho bị cáo N làm giả theo yêu cầu của O và trả thêm 350.000 đồng cho bị cáo N. Bị cáo N tiếp tục giao lại cho đối tượng H2 làm giả và trả thêm 80.000 đồng cho H2. Sau đó, S đem 02 bộ hồ sơ xin việc giả đến quán C2 thuộc khu phố P, phường H, thị xã (nay là thành phố) B giao cho O và nhận từ O 200.000 đồng. O sử dụng 02 hồ sơ xin việc giả xin vào làm việc tại một công ty trên địa bàn phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng không được nhận.
Sau lần mua bán hồ sơ xin việc giả, S và O nảy sinh tình cảm nam nữ, S nói O tìm kiếm khách hàng có nhu cầu làm giấy tờ giả rồi chuyển cho S để S đặt làm giấy tờ giả giao cho khách, lợi nhuận sẽ chia đôi, O đồng ý. O sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Trần Song Anh T1” đăng tải các bài viết với nội dung nhận làm các loại giấy tờ giả và sử dụng tài khoản zalo tên “tran song anh thư” nhận yêu cầu làm giấy tờ giả của khách hàng, rồi chuyển thông tin, hình ảnh, yêu cầu của khách hàng qua tài khoản zalo tên “Thùy My” của S. Từ tháng 6/2018 đến 06/7/2018, S và O đã nhận 03 yêu cầu làm giấy tờ giả, rồi đặt N làm giả, cụ thể:
- - Ngày 01/7/2018, Trần Như N1 (sinh năm 2001; HKTT: Ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau) gửi hình ảnh chứng minh nhân dân của N1 và đặt O làm 01 giấy chứng minh nhân dân giả sửa năm sinh thành 1999, O báo giá 1.700.000 đồng. Sau đó, O gửi thông tin qua cho S để S gửi cho bị cáo N làm giả với giá 800.000 đồng. Bị cáo N đặt H2 làm giả với giá 800.000 đồng và giao lại cho S 01 giấy chứng minh nhân dân giả số [...] mang tên Trần Như N1, sinh năm 1999. Sau đó, S không giao được chứng minh nhân dân giả này vì O không liên hệ được với N1, S cất giữ trong người.
- - Ngày 01/7/2018, O nhận làm 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành công nghệ hóa giả cho Hồ Thị Phương H1 (sinh năm 1992, nơi thường trú: Xã T, huyện C, thành phố Hà Nội) với giá 3.800.000 đồng, rồi gửi thông tin qua cho S. Sinh đặt bị cáo N làm giả với giá 1.600.000 đồng. Bị cáo N đặt H2 làm giả với giá 1.400.000 đồng và giao lại cho S bộ hồ sơ giả gồm: 01 bằng tốt nghiệp trung cấp, 01 bảng điểm thi và 02 bản photocopy chứng thực bản sao đúng với bản chính. Sau đó, S giao bộ hồ sơ cấp bằng tốt nghiệp trung cấp giả cho H1 tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và nhận 3.800.000 đồng. Khoảng 04 ngày sau khi nhận hồ sơ giả, H1 thấy vết mực trên các giấy tờ này bị lem nên vứt bỏ.
- - Sáng ngày 05/7/2018, Nguyễn Thị L (sinh năm 1999, nơi thường trú: Ấp N, xã H, huyện K, tỉnh An Giang) gửi hình ảnh chứng minh nhân dân của L và đặt O làm giả giấy chứng minh nhân dân (do L làm mất chứng minh nhân dân thật), O báo giá 1.700.000 đồng. Sau đó, O gửi thông tin qua cho S để S gửi cho bị cáo N làm giả với giá 1.300.000 đồng, bị cáo N đặt H2 làm giả. Sáng ngày 06/7/2018, H2 gọi nói bị cáo N biết đã để giấy chứng minh nhân dân giả số [...] của Nguyễn Thị L tại tiệm phôtô của bị cáo N. Thời điểm này, bị cáo N đang nghỉ thai sản ở nhà nên thuê em chồng là Trần Vũ K trông coi quản lý tiệm nhưng bị cáo N không nói cho K biết giấy chứng minh nhân dân mà H2 đưa là giấy giả. Khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo N liên lạc nói Sinh đến tiệm phôtô lấy giấy chứng minh nhân dân giả của Nguyễn Thị L. Sinh đến tiệm phôtô gặp K lấy giấy chứng minh và đưa cho K 1.300.000 đồng.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/7/2018, Bùi Việt S đang giao 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị L cho Nguyễn Thị L tại đoạn đường TC4 thuộc khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra C3 (nay là thành phố) Bến C1 phối hợp với Công an phường M bắt quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an phát hiện thu giữ 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Như N1 do S cất giấu trong người.
- Ngày 13/8/2018, Trần Thị Kim O giao nộp:
- + 02 (hai) đơn xin việc;
- + 04 (bốn) bản photocopy chứng thực bản sao đúng với bản chính giấy chứng minh nhân dân số [...];
- + 04 (bốn) sơ yếu lý lịch;
- + 02 (hai) đơn xin xác nhận hạnh kiểm;
- + 02 (hai) giấy khám sức khỏe;
Theo Kết luận giám định số 213/GĐ-PC54 ngày 09/7/2018 của Phòng K1 – Công an tỉnh B, kết luận: Chữ ký Bùi Bé T2 và hình tròn có cùng nội dung “* CỘNG HÒA XHCN VIỆT NĂM * CÔNG AN T.AN GIANG” trên 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...], mang tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1999, nơi ĐKHK thường trú: ấp N, H, K, An Giang, đề ngày 22/3/2018 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Theo Kết luận giám định số 269/GĐ-PC09 ngày 27/8/2018 của Phòng K1 – Công an tỉnh B, kết luận:
- + Hình dấu tròn có nội dung “* U.B.N.D TT.BÌNH DƯƠNG H.PHÙ MỸ T.BÌNH ĐỊNH” trên 02 (hai) Đơn xin việc, 04 (bốn) Sơ yếu lý lịch và 04 (bốn) chứng minh nhân dân phô tô số [...] cùng mang tên Trần Thị Kim O, sinh năm 1993, đề ngày 13/5/2018 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
- + Hình dấu tròn có nội dung “* CÔNG AN TỈNH BÌNH ĐỊNH * CÔNG AN XÃ PHÙ MỸ” trên 02 (hai) Đơn xin xác nhận hạnh kiểm cùng mang tên Trần Thị Kim O, sinh năm 1993, đề ngày 13/5/2018 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
- + Hình dấu tròn có nội dung “* CHXHCN VIỆT NAM * CÔNG AN TỈNH CÀ MAU” trên 01 (một) chứng minh nhân dân số [...], mang tên Trần Như N1, sinh năm 1999, đề ngày 16 tháng 5 năm 2016 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Theo Kết luận giám định số 326/GĐ-PC09 ngày 31/10/2018 của Phòng K1 – Công an tỉnh B, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “* SỞ Y TẾ TỈNH ĐỒNG NAI – TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA” trên 02 (hai) giấy khám sức khỏe mang tên Trần Thị Kim O so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Sau khi nhận được tài liệu đã làm giả từ đối tượng H2, bị cáo N đã giao cho S để thu lợi bất chính với tổng số tiền là 2.800.000 đồng.
Đối với Bùi Việt S và Trần Thị Kim O, ngày 25/01/2019 Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát đưa vụ án ra xét xử, tuyên phạt Bùi Việt S 05 năm tù và Trần Thị Kim O 03 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 19/2019/HS-ST. Ngoài ra, bản án còn nhận định về những người liên quan, về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan trong vụ án.
* Tại Cáo trạng số 329/CT-VKSBC ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Thị Tuyết N về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Tuyết N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
- - Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phan Thị Tuyết N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.800.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 04 tài liệu, giấy tờ mà Phan Thị Tuyết N môi giới làm giả cho Hồ Thị Phương H1, do sau khi nhận được giấy tờ giả H1 đã vứt bỏ, không thu giữ được để trưng cầu giám định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm đối với bị cáo N là có căn cứ.
- - Đối với Nguyễn Thị L, Trần Như N1, Hồ Thị Phương H1 có hành vi mua giấy tờ giả nhưng chưa nhận và chưa sử dụng các loại giấy tờ giả này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm đối với L, N1, H1 là có căn cứ.
- - Đối với người đàn ông tên H2 có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý trong vụ án.
* Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Tuyết N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 329/CT-VKSBC ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố và không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ đầu tháng 6/2018 đến ngày 06/7/2018, bị cáo Phan Thị Tuyết N có hành vi đặt 01 đối tượng tên H2 (không rõ lai lịch) làm giả 16 tài liệu của cơ quan, tổ chức gồm: 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị L; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Như N1; 02 đơn xin việc; 04 bản photocopy chứng thực bản sao đúng với bản chính giấy chứng minh nhân dân số [...]; 04 sơ yếu lý lịch; 02 đơn xin xác nhận hạnh kiểm; 02 giấy khám sức khỏe mà Bùi Việt S và Trần Thị Kim O đặt bị cáo N làm giả. Sau khi nhận được 16 tài liệu giả này từ H2, bị cáo N đã giao cho S để thu lợi bất chính với tổng số tiền là 2.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 329/CT-VKSBC ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng do có mức cao nhất khung hình phạt đến 07 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi đặt làm giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức nhằm bán lại kiếm lời là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện nhưng có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Để góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, giữ gìn nếp sống văn minh của địa phương, Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Vai trò của bị cáo trong vụ án: Bùi Việt S là người chủ mưu, rủ rê Trần Thị Kim O và bị cáo N cùng thực hiện tội phạm và đóng vai trò chính trong vụ án. O là đồng phạm với vai trò giúp sức cho S, O trực tiếp nhận làm hồ sơ xin việc giả, tài liệu, giấy tờ giả cho các đối tượng có nhu cầu, sau đó giao lại cho S để S làm giả. Bị cáo N là đồng phạm với vai trò người giúp sức khi trung gian môi giới nhận thông tin, giấy tờ, hồ sơ xin việc, tài liệu mà S gửi cho bị cáo N để bị cáo N đặt đối tượng H2 làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, sau khi nhận hồ sơ, giấy tờ, tài liệu đã làm giả từ đối tượng H2 thì bị cáo N giao lại cho S để thu lợi bất chính với tiền 2.800.000 đồng.
[9] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.800.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
[10] Đối với 04 tài liệu, giấy tờ mà bị cáo Phan Thị Tuyết N môi giới làm giả cho Hồ Thị Phương H1, do sau khi nhận được giấy tờ giả H1 đã vứt bỏ, không thu giữ được để trưng cầu giám định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm đối với N là có căn cứ.
[11] Đối với Nguyễn Thị L, Trần Như N1, Hồ Thị Phương H1 có hành vi mua giấy tờ giả nhưng chưa nhận và chưa sử dụng các loại giấy tờ giả này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm đối với L, N1, H1 là có căn cứ.
[12] Đối với người đàn ông tên H2 (không rõ lai lịch) có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý.
[13] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Tuyết N phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Tuyết N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phan Thị Tuyết N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.800.000 (hai triệu, tám trăm ngàn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Về quyền kháng cáo:
+ Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/01/2025).
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Tuyết N
