Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 24 - 01 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bằng Văn M sinh ngày 04 tháng 10 năm 1905 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bằng Q và bà Lưu Thị B; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 12/12/2024 được tại ngoại, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, Bằng Văn M đang ở gần công ty TNHH C thuộc KCN B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp 01 nam giới tự giới thiệu là M1 có bán pháo hoa nổ. Do M đang có ý định mua pháo hoa nổ để đốt vào dịp tết Nguyên đán 2025 nên đã hỏi M1 về số lượng và giá tiền. M1 cho biết đang có 06 hộp pháo hoa nổ, trong đó có 05 hộp loại 36 ống và 01 hộp loại 49 ống, bán với giá 6.000.000 đồng. M đồng ý và hai bên hẹn nhau khoảng 12 giờ 00 phút ngày hôm sau đến khu vực nghĩa trang T, thị trấn B, huyện B để giao dịch.

Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 25/12/2024, M thuê xe ôm đi đến điểm hẹn. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày M xuống xe và đi bộ vào khu vực nghĩa trang T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì thấy M1 đang đợi ở đó. M1 chỉ cho M chỗ để pháo hoa nổ và M đến gần chân cột đèn thì thấy 01 bao tải xác rắn. M mở ra thì thấy trong bao tải có 06 hộp pháo hoa nổ, trong đó có 05 hộp pháo hoa nổ, loại 36 ống và 01 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống. M trả cho M1 6.000.000 đồng tiền mua pháo như đã thỏa thuận. Sau khi mua bán xong, M1 cầm tiền và đi trước; Mạnh xách bao tải có chứa số lượng pháo hoa nổ vừa mua và đi ra ngoài đường để bắt xe về. Khi M đang xách bao tải có chứa pháo đi ở đường dân sinh thuộc TDP T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị lực lượng Công an huyện B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tang vật thu giữ gồm: 06 khối hộp (ký hiệu A) được gói bằng giấy màu in ký tự nước ngoài, trong đó có 05 khối hộp có 36 ống trụ tròn liên kết với nhau và có 01 dây dẫn thò ra ngoài; 01 khối hộp bên trong có 49 ống trụ tròn liên kết với nhau và có 01 dây dẫn thò ra ngoài; 01 bao tải xác rắn.

Tại Kết luận giám định số 3819/KLGD ngày 28/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, kết luận: 06 khối hộp của mẫu ký hiệu A gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 7,415 kg (5,497kg +1,918kg) không kể hộp giấy catton niêm phong bao gói. Cơ quan giám định hoàn lại 2,268 kg mẫu được niêm phong kín theo quy định.

Tại Quyết định truy tố số 20/QĐ- VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo M về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan điều tra M khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo M như Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo M từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giam, tạm giữ; không đề nghị hình phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bằng Văn M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, tại đường dân sinh thuộc TDP T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang Bằng Văn M có hành vi tàng trữ 06 hộp hình hộp đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 7,415 kg (Bảy phảy bốn mười lăm kilôgam). M khai nhận 06 hộp hình hộp để trong bao tải xác rắn là pháo hoa nổ được M mua về để đốt trong dịp tết Nguyên đán 2025.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 340/TANDTC ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán “pháo hoa nổ” trong nội địa và Công văn số 128/ VKSNDTC – V3 ngày 10/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xử lý hành vi liên quan đến pháo thì “Trường hợp kết luận giám định của cơ quan xác định vật chứng thu giữ là pháo...có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và gây tiếng nổ) thì xem xét xử lý về hình sự, không phụ thuộc vào việc loại pháo này có đặc tính khác (như tạo ánh sáng, có màu sắc...)”.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Bằng Văn M về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ, ... hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây,...thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:"

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

[4]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế được pháp luật bảo vệ, gây mất an toàn và mất trật tự trị an tại địa phương. Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán,

đốt pháo trái phép vẫn diễn ra phức tạp, đặc biệt là trong các dịp lễ hội, tết nguyên đán; gây bức xúc trong quần chúng nhân dân nên việc đưa bị cáo ra xét xử nhằm tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về tác hại của các loại pháo nổ và cần xử phạt nghiêm với mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả gây ra và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mặc dù bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng được học hành, được trang bị kiến thức và hiểu biết xã hội, được tiếp cận với các phương tiện thông tin, được nghe tuyên truyền về tác hại của pháo hoa nổ, được biết đốt pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp để thỏa mãn thú vui và đua đòi với chúng bạn nên đã có hành vi vi phạm pháp luật như trên. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và làm gương cho người khác nhất là thế hệ trẻ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000₫”. Tuy nhiên trong quá trình điều tra xác định bị cáo M là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Đối với đối tượng bán pháo cho M có tên là M1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh triệt để các thông tin do M khai báo nhưng chưa xác định được người bán pháo có địa chỉ cụ thể như thế nào nên chưa đủ căn cứ xử lý. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Tòa án không xét.

[6.1]. Đối với người lái xe ôm đã chở M từ nhà đến TDP T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc: Đến nay CQĐT không làm rõ được nhân thân, danh tính địa chỉ nên Tòa án không xét.

[7]. Về vật chứng của vụ án: Đối với mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại là 2,268 kg pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói niêm phong và 01 bao tải xác rắn cần tịch thu tiêu huỷ.

[8]. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bằng Văn M phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bằng Văn M 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 28/12/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu huỷ đối với mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại gồm 2,268 kg pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói niêm phong và 01 bao tải xác rắn. Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 23/01/2025 và biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện B với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V lập ngày 24/01/2025.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bằng Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên;
  • - Công an - CA huyện Bình Xuyên;
  • - CQCSTHADS CA huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Phương Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bằng Văn M tàng trữ pháo nổ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger