Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/01/2025

“V/v: Tranh chấp xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Phú
  • Ông Bùi Quang Hợi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị Thu H, sinh năm 1999;

Bị đơn: Anh Trần Khanh T, sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Số G, ngõ F, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Lương Thị Thu H trình bày:

Chị Lương Thị Thu H và anh Trần Khanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời gian đầu chung sống, anh chị đã cố gắng hòa nhập cuộc sống chung, thay đổi các quan điểm còn mâu thuẫn tuy nhiên những năm gần đây, cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, dẫn đến cãi vã khiến chị H lâm vào tình cảnh buồn chán và đi nhậu cùng bạn bè. Khi đó, chị H đã uống rượu say, không kiểm soát được hành vi của mình nên đã có quan hệ với người khác dẫn đến mang thai. Ngày 09/01/2024, chị H sinh ra cháu Trần Minh K trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh T. Đến ngày 27/10/2024, anh T có đi làm xét nghiệm ADN với cháu Trần Minh K thì kết quả xác định anh T và cháu K không có quan hệ huyết thống là bố con. Do vậy, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xác định cháu Trần Minh K không phải là con đẻ của anh Trần Khanh T. Ngoài ra, chị H không có yêu cầu nào khác. Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng trong vụ án.

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị H là: Giấy đăng ký kết hôn, Giấy khai sinh Trần Minh K, Kết quả xét nghiệm ADN ngày 29/10/2024 của Công ty Cổ phần C kết luận Trần Khanh T không có quan hệ huyết thống bố con với Trần Minh K.

Tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Trần Khanh T trình bày:

Anh và chị Lương Thị Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời gian chung sống, anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, dẫn đến cãi vã khiến cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Ngày 09/01/2024, chị H sinh ra cháu Trần Minh K trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị H. Nay chị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu K không phải con anh thì anh không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, anh T không có yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 06/2025/QĐ-TCGĐ ngày 08/01/2025 với nội dung trưng cầu giám định phân tích mẫu ADN xác định huyết thống theo dòng cha của người có mẫu là anh Trần Khanh T và mẫu máu của cháu Trần Minh K.

Tại bản Kết quả xét nghiệm ADN số 3251GV/01.25/ADN ngày 14/01/2025 của Công ty TNHH Đ kết luận: “Người có mẫu ghi tên Trần Khanh T không có quan hệ huyết thống cha – con với người có mẫu ghi tên Trần Minh K, độ tin cậy 99,999999%”

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt chị trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng. Bị đơn anh Trần Khanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28; 35; 39; 58; 195 và Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88 và 89 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của chị Lương Thị Thu H, xác định anh Trần Khanh T không phải là cha của cháu Trần Minh K, sinh ngày 09/01/2024. Về án phí: Chị Lương Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Trần Minh K không phải là con đẻ của anh Trần Khanh T. Tòa án giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác định quan hệ tranh chấp vụ án là “Tranh chấp xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn cư trú tại khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xem xét vắng mặt họ là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Trên cơ sở lời khai của các đương sự và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp thể hiện: Chị Lương Thị Thu H và anh Trần Khanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời gian chung sống, chị H và anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vã khiến cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Trong thời kỳ hôn nhân với anh Trần Khanh T, chị H đã có quan hệ với người khác nên ngày 09/01/2024, chị H sinh ra cháu Trần Minh K. Cháu Trần Minh K sinh ngày 09/01/2024, được UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy khai sinh ngày 05/02/2024 với họ tên mẹ là Lương Thị Thu H và họ tên cha là Trần Khanh T. Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Minh K không phải là con đẻ của anh Trần Khanh T, ngoài ra không có yêu cầu nào khác. Bị đơn anh T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết quả xét nghiệm ADN số 3251GV/01.25/ADN của Công ty TNHH Đ do Tòa án trưng cầu giám định kết luận: “Người có mẫu ghi tên Trần Khanh T không có có quan hệ huyết thống cha – con với người có mẫu ghi tên Trần Minh K, độ tin cậy 99,999999%”. Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả giám định.

Từ căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Thu H, xác định cháu Trần Minh K, sinh ngày 09/01/2024 không phải là con đẻ của anh Trần Khanh T theo quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí. Do vậy, cần hoàn trả chị Hằng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0000148 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

[4] Về chi phí giám định:

Chị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định ADN, xác nhận chị H đã thanh toán xong cho Công ty TNHH Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 161, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 88, 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Thu H. Xác định cháu Trần Minh K, sinh ngày 09/01/2024 không phải là con đẻ của anh Trần Khanh T (Theo Giấy khai sinh số 26/2024 đăng ký khai sinh tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 05/02/2024). Chị Lương Thị Thu H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thay đổi hộ tịch cho cháu Trần Minh K theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí: Vụ án thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí. Hoàn trả chị Hằng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0000148 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Về chi phí giám định: Chị Lương Thị Thu H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định, xác nhận chị H đã thanh toán xong.
  4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSNDTP Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • - UBND xã Nhân Đạo, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Tuyết Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp xác định cha cho con

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp anh T không phải bố đẻ của con K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger